SKKN Một số biện pháp giúp học sinh hứng thú, phát huy tích cực cho học sinh trong môn Toán Lớp 4 (GV: Phạm Thị Duyên - Trường TH Nguyễn Khắc Nhu)
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Một số biện pháp giúp học sinh hứng thú, phát huy tích cực cho học sinh trong môn Toán Lớp 4 (GV: Phạm Thị Duyên - Trường TH Nguyễn Khắc Nhu)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
1 PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn biện pháp Theo chương trình Tiểu học, môn Toán có vai trò quan trọng cùng với các môn học khác đào tạo ra những con người phát triển toàn diện. Môn Toán ở tiểu học bước đầu hình thành và phát triển năng lực, kích thích trí tưởng tượng, gây hứng thú học. Môn Toán là ''chìa khoá'' mở cửa cho tất cả các ngành khoa học khác, là bộ môn không thể thiếu được trong nhà trường, đây là những tri thức, kỹ năng vừa đáp ứng cho phát triển trí tuệ, óc thông minh, sáng tạo, vừa đáp ứng cho việc ứng dụng thiết thực trong cuộc sống hàng ngày, để các em trở thành những người có ích cho xã hội. Với mục tiêu của chương trình giáo dục 2018 đặt ra thì các hoạt động dạy học cần lấy hoạt động của học sinh làm trung tâm, qua đó không những giúp học sinh lĩnh hội tri thức mà còn giúp các em hình thành và phát triển được các phẩm chất năng lực cần thiết. Nếu mỗi giáo viên chỉ truyền đạt, giảng giải theo các tài liệu có sẵn trong sách giáo khoa, trong sách hướng dẫn và thiết kế bài một cách rập khuôn, máy móc và thụ động thì việc học tập của học sinh sẽ diễn ra đơn điệu, tẻ nhạt, học sinh không có hứng thú trong học tập. Quá trình dạy học ở trường Tiểu học Nguyễn Khắc Nhu, trong những năm gần đây tôi nhận thấy: Giáo viên chưa có sự đổi mới nhiều về phương pháp dạy học tích cực, chủ yếu là các phương pháp truyền thống, thụ động. Bên cạnh đó, do đặc điểm tâm sinh lý học sinh Tiểu học dễ nhớ mau quên, sự tập trung chú ý trong giờ học chưa cao, chưa có ý thức trong học tập, chưa biết cố gắng, tự giác trong học tập nên các em thường nhầm lẫn giữa các dạng bài với nhau. Một số em tiếp thu bài một cách thụ động, ghi nhớ máy móc, cẩu thả nên không nhận diện được kiến thức. Vì vậy giáo viên phải biết đặc điểm tình hình của từng đối tượng, khả năng tiếp thu của từng em để tổ chức tiết dạy sao cho các em luôn cảm thấy nhẹ nhàng, thoải mái, hứng thú với môn học giúp các em khắc sâu kiến thức. 2 2. Mục đích nghiên cứu Giúp học sinh hứng thú, phát huy tính tích cực, học tập chủ động và thêm yêu thích môn Toán. Giúp giáo viên tìm ra các biện pháp khắc phục các tồn tại, khó khăn trong quá trình giảng dạy từ đó linh hoạt điều chỉnh và sáng tạo phương pháp dạy học cho phù hợp với đối tượng học sinh. Đồng thời, giúp tôi nâng cao nghiệp vụ chuyên môn, tích lũy thêm kinh nghiệm trong công tác giảng dạy và bồi dưỡng học sinh có năng khiếu môn Toán. 3. Nhiệm vụ nghiên cứu Tìm hiểu về thực trạng dạy và học môn Toán của giáo viên trong việc phát triển năng lực, phẩm chất của học sinh theo chương trình GDPT 2018. Tiến hành tìm hiểu, xây dựng mục tiêu, kế hoạch, lựa chọn các biện pháp phù hợp, kích thích sự hứng thú, chủ động, hợp tác của học sinh trong học tập môn Toán ở lớp, ở trường. 4. Đối tượng, phạm vi của nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Một số biện pháp giúp học sinh hứng thú, phát huy tính tích cực cho học sinh. - Phạm vi nghiên cứu: Phân môn Toán lớp 4. 5. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp thu thập, nghiên cứu, phân tích các tài liệu liên quan. - Phương pháp điều tra khảo sát thực tế. - Dự giờ, trao đổi với đồng nghiệp. - Dạy thực nghiệm, trải nghiệm thực tế. - Kiểm tra bằng nhiều hình thức khảo sát chất lượng. - Đúc rút kinh nghiệm. 3 PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận Căn cứ thông tư 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc Triển khai Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể 2018 đối với học sinh lớp 4 về năng lực Toán học của học sinh được thể hiện qua các hoạt động sau: + Nhận biết kiến thức Toán học. + Tư duy Toán học. + Vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học. Năng lực tính toán được hình thành và phát triển ở nhiều môn học, hoạt động giáo dục phù hợp, đặc điểm của mỗi môn học và hoạt động giáo dục. Biểu hiện tập trung nhất của năng lực tính toán là năng lực Toán học, được hình thành và phát triển chủ yếu ở môn Toán. Yêu cầu cần đạt về năng lực toán học đối với học sinh ở mỗi lớp học, cấp học được quy định trong chương trình môn Toán. Căn cứ thông tư 27/2020/TT-BGDDT ngày 04/9/2020 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc Ban hành quy định đánh giá học sinh Tiểu học. Ở điều 7 đánh giá học sinh về sự hình thành và phát triển về phẩm chất, năng lực. Vào giữa học kì I, cuối học kì I, giữa học kì II và cuối năm học, giáo viên chủ nhiệm phối hợp với giáo viên dạy cùng lớp, thông qua các nhận xét, biểu hiện trong quá trình đánh giá thường xuyên về sự hình thành và phát triển từng phẩm chất chủ yếu, năng lực cốt lõi của mỗi học sinh, đánh giá theo các mức sau: + Tốt: Đáp ứng tốt yêu cầu giáo dục, biểu hiện rõ và thường xuyên. + Đạt: Đáp ứng được yêu cầu giáo dục, biểu hiện nhưng chưa thường xuyên. + Cần cố gắng: Chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu giáo dục, biểu hiện chưa rõ. 4 a) Vào giữa học kì I, cuối học kì I, giữa học kì II và cuối năm học, giáo viên dạy môn học căn cứ vào quá trình đánh giá thường xuyên có biểu hiện cụ thể về các thành phần năng lực của từng môn học, hoạt động giáo dục để đánh giá học sinh đối với từng môn học, hoạt động giáo dục theo các mức sau: - Hoàn thành tốt: thực hiện tốt các yêu cầu học tập và thường xuyên có biểu hiện cụ thể về các thành phần năng lực của môn học hoặc hoạt động giáo dục. - Hoàn thành: thực hiện được các yêu cầu học tập và có biểu hiện cụ thể về các thành phần năng lực của môn học hoặc hoạt động giáo dục. - Chưa hoàn thành: chưa thực hiện được các yêu cầu học tập hoặc chưa có biểu hiện cụ thể về các thành phần năng lực của môn học hoặc hoạt động giáo dục. Lứa tuổi học sinh Tiểu học gồm các em học sinh theo học từ lớp 1 đến lớp 5 trong độ tuổi 6-12 tuổi. Ở độ tuổi này sự phát triển của não về cấu tạo và chức năng không đồng đều nên khả năng kìm chế của các em còn rất yếu, hưng phấn mạnh do đó ở độ tuổi này các em rất hiếu động. Lứa tuổi này hoạt động học tập là hoạt động chủ đạo. Hoạt động học tập là hoạt động hoàn toàn mới, giúp học sinh hình thành năng lực nhờ đó mà sự phát triển tâm lí nhân cách có vai trò quan trọng với sự phát triển tâm lí của học sinh Tiểu học. Ở độ tuổi này, có hai loại ghi nhớ phát triển mạnh. Đầu độ tuổi các em thiên về ghi nhớ trực quan giàu hình ảnh máy móc, học thuộc lòng các tri thức có trong sách vở. Càng về cuối độ tuổi thì ghi nhớ về từ ngữ và ghi nhớ về hình tượng càng phát triển. Nhiều em thể hiện nhớ nhanh nhớ nhiều. Tuy nhiên có những em không nhớ được kiến thức do không hiểu bài hoặc không chú ý trong học tập. 5 Bên cạnh đó, phương pháp dạy học Toán ở một số giáo viên còn hạn chế. Cụ thể, giáo viên và học sinh đều phụ thuộc vào các tài liệu sẵn có. Giáo viên chỉ truyền đạt và giảng giải theo các tài liệu sẵn có ở sách giáo khoa. Vì vậy, giáo viên thường làm việc một cách máy móc và ít quan tâm đến khả năng sáng tạo của học sinh. Học sinh học tập một cách thụ động, chủ yếu chỉ nghe giảng, ghi nhớ và làm bài tập theo mẫu. Do đó, việc học tập thường ít hứng thú, nội dung các hoạt động thường đơn điệu, nghèo nàn và chưa chú trọng đến sự phát triển năng lực cá nhân học sinh. Vì thế, đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực hoạt động cả học sinh là nhiệm vụ rất quan trọng để nâng cao chất lượng dạy học và nâng cao hiệu quả giáo dục đào tạo. Hiện nay, đổi mới phương pháp dạy học nhằm tích cực hóa hoạt động của học sinh được tiến hành theo 4 định hướng cơ bản đó là: + Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh. + Bồi dưỡng phương pháp dạy học tự học. + Rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn. + Tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh. Đổi mới về nhận thức, trong đó cần chú trọng năng lực chủ động, sáng tạo của giáo viên và học sinh. Khuyến khích dạy học sáng tạo, tăng cường trò chơi học tập. Tích cực sử dụng phiếu học tập, các phương tiện kĩ thuật tích cực. Đòi hỏi cả giáo viên và học sinh đều phải tích cực, chủ động, linh hoạt, sáng tạo trong quá trình dạy học. Tạo cơ hội tốt cho đổi mới phương pháp dạy học theo hướng lấy học sinh làm trung tâm. Trong nhà trường Tiểu học, đặc biệt là với lớp 4, là nơi đặt những viên gạch đầu tiên trong việc hình thành và phát triển nhân cách toàn diện cho học 6 sinh. Tạo hứng thú, phát huy tính tích cực cho học sinh chính là mục tiêu đầu tiên và quan trọng trong mục tiêu giáo dục toàn diện. Bởi việc tiếp thu kiến thức phụ thuộc rất nhiều vào thái độ học tập của các em. Các em có hứng thú học tập, chủ động chiếm lĩnh kiến thức thì mới mang lại hiệu quả giáo dục. Vì vậy, đòi hỏi người giáo viên phải liên tục cập nhật, tiếp thu những xu hướng mới; đổi mới nội dung và phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và tự lập của các em. 2. Cơ sở thực tiễn 2.1 Thực trạng Năm học 2023-2024 là năm học thứ tư thực hiện Chương trình GDPT 2018, nhà trường luôn thực hiện tốt việc đổi mới dạy học và sinh hoạt chuyên môn nghiên cứu bài học để nâng cao chất lượng dạy và học của giáo viên, học sinh. Nhà trường được sự quan tâm sâu sắc của chính quyền địa phương, của phụ huynh học sinh. Công tác giáo dục của nhà trường luôn luôn đảm bảo sự phối kết hợp hài hòa giữa: Gia đình - Nhà trường - Xã hội. Các lớp học trong nhà trường được trang bị đủ 100% ti vi thông minh và bảng tương tác để phục vụ cho việc dạy và học của giáo viên, học sinh. Đội ngũ giáo viên khối lớp 4 đều có trình độ đạt chuẩn. Giáo viên trong khối luôn đoàn kết, lắng nghe và học hỏi cùng nhau để phát triển về chuyên môn nghiệp vụ và công tác chủ nhiệm lớp. Tập thể cán bộ, giáo viên, nhân viên nhà trường. 7 Lớp 4A1 do tôi chủ nhiệm có 33 em, có 32/33 em là người người dân tộc Kinh. Học sinh đều sống ở trên địa bàn xã Song Khê. Có 100% học sinh đã học qua mầm non. Học sinh được trang đầy đủ SGK và đồ dùng học tập theo Chương trình GDPT 2018. Phụ huynh quan tâm và ủng hộ các hoạt động học tập, hoạt động trải nghiệm của lớp, nhà trường. 100% phụ huynh có điện thoại thông minh, phụ huynh tham gia đầy đủ vào Zalo nhóm lớp để trao đổi thông tin hàng ngày cùng giáo viên chủ nhiệm và nắm bắt kịp thời các văn bản của nhà trường. Tập thể lớp 4A – Năm học 2023-2024. 2.2. Hạn chế Nhiều giáo viên chưa thực hiện đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học đồng đều và phổ biết trong dạy học. Các tiết đổi mới phương pháp dạy học vẫn còn mang tính chất đối phó. Nhiều giáo viên giảng dạy vẫn đặt nặng mục tiêu kiến thức mà chưa chú trọng đến việc giúp học sinh phát triển phẩm chất, năng lực theo mục tiêu chương trình giáo dục 2018 đề ra. Năng lực, nhận thức của các em trong lớp không đồng đều, còn nhiều hạn chế nên khó khăn trong việc tiếp cận với cùng một nội dung chương trình học tập mới hiện nay. Một số học sinh còn mải chơi, chưa có hứng thú học 8 tập, thái độ học tập chưa đúng đắn. Ý thức tự giác trong học tập còn chưa cao, không tập trung vào bài giảng của thầy cô, chưa chú ý nhiều trong giờ. Học sinh mất tập trung, chưa chú ý trong giờ học. 2.3. Nguyên nhân Một số giáo viên trẻ còn chưa có kinh nghiệm nên khi dạy học nói chung và dạy môn Toán nói riêng còn mắc bệnh nói nhiều, tổ chức hình thức dạy học đơn điệu, chưa linh hoạt trong đổi mới phương pháp dạy học. Lớp vẫn còn khoảng từ 5 đến 6 em có bố mẹ đi làm xa nên việc học tập của các em chủ yếu là phó mặc cho giáo viên chủ nhiệm và nhà trường. Các em đến lớp còn quên sách giáo khoa, đồ dùng học tập. Học sinh lớp 4 là giai đoạn đang dần hoàn thiện và phát triển cả về mặt tâm sinh lí, xã hội. Tuy nhiên, học sinh thiếu sự tập trung cao độ, khả năng ghi nhớ và chú ý có chủ định chưa được phát triển mạnh, tính hiếu động, dễ xúc động còn bộc lộ rõ nét. Học sinh nhớ rất nhanh và quên cũng nhanh. Trí nhớ trực quan – hình tượng phát triển chiếm ưu thế hơn trí nhớ từ ngữ – logic do đó khả năng giao tiếp còn chưa linh hoạt, chưa biết tương tác, chia sẻ trong học tập, nhiều em cảm thấy khó khăn khi học môn Toán. Để có số liệu đánh giá đúng thực trạng và có cơ sở đánh giá tính hiệu quả của các biện pháp thực hiện, đầu năm học tôi đã tiến hành khảo sát học sinh để 9 nắm rõ đặc điểm tình hình học sinh cụ thể hơn. Dưới đây là kết quả khảo sát được tiến hành ở lớp 4A1 – Trường Tiểu học Nguyễn Khắc Nhu: KẾT QUẢ KHẢO SÁT Lớp Sĩ số Hứng thú Bình thường Không hứng thú SL % SL % SL % 4A1 33 4 12.1 8 24.2 21 63.7 KẾT QUẢ KHẢO SÁT Lớp Sĩ số Hoàn thành tốt Hoàn thành Chưa hoàn thành SL % SL % SL % 4A1 33 4 12.1 9 27.2 22 60.7 Từ kết quả khảo sát cho thấy, còn nhiều học sinh chưa có hứng thú trong học tập môn Toán. Khi không có hứng thú học tập, các em mất tập trung, không tích cực, chủ động trong học tập vì vậy mà kết quả học tập chưa cao và những phẩm chất, năng lực cũng chưa được hình thành và phát triển. Như vậy, giáo viên cần có những đổi mới trong cách thức tổ chức dạy học nhằm giúp học sinh thay đổi thái độ học tập, tập trung, chủ động hơn trong học tập. Từ đó giúp các em hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực của người học và nâng cao chất lượng học tập. Vì vậy, trong năm học 2023 – 2024, tôi đã mạnh dạn đề xuất “Biện pháp tạo hứng thú và phát huy tính tích cực cho học sinh trong học tập môn Toán lớp 4.” 3. Các biện pháp 3.1. Tạo tâm thế thoải mái, sẵn sàng cho học sinh trước tiết học. Việc tạo ra một tâm trạng thoải mái và sẵn sàng trước khi bắt đầu tiết học giúp tăng cường sự hứng thú và động viên cho học sinh. 10 Đồng thời, sự hứng thú và niềm vui từ việc tham gia vào các hoạt động học tập có thể tạo ra một môi trường thân thiện giữa giáo viên và học sinh. Điều này tạo ra cơ hội cho một môi trường học tập hòa nhã và hỗ trợ, nơi mà học sinh cảm thấy an tâm và tự tin để tham gia, tạo ra một môi trường học tích cực và khuyến khích sự phát triển toàn diện của học sinh. * Sử dụng trò chơi Một số trò chơi áp dụng trong dạy học: + Trò chơi ô chữ + Trò chơi câu đố + Trò chơi trắc nghiệm + Trò chơi vận động, Ví dụ 1: Trong bài 4: Các số trong phạm vi 1000 – Lớp 4 sách Cánh diều Để giúp học sinh có hứng thú đầu giờ học, tôi đã xây dựng và cho các em tham gia trò chơi “Hái sao”. Trò chơi được xây dựng các câu hỏi dưới dạng trắc nghiệm khách quan, lựa chọn đáp án đúng. Luật chơi: Các em giơ tay trả lời câu hỏi hoặc giáo viên gọi học sinh trả lời. Trò chơi đã giúp các em có tâm thế thoải mái, hứng khởi trước giờ học. Học sinh hứng thú với trò chơi khởi động “Hái sao”. 11 Ví dụ 2: Trong Luyện tập (SGK Toán – tập 2 – trang 11) Để học sinh sôi nổi trong tiết học, tôi tổchức cho các em tham gia trò chơi “Xây nhà”. Trò chơi được thiết kế với những hình ảnh sinh động về những chú thợ yêu lao động. Mỗi một chặng thử thách tương ứng với một bài tập ở tiết Luyện tập, giúp học sinh tập trung và tích cực hơn khi giải quyết các bài tập đó. Bên cạnh đó, giáo viên luôn chú ý quan sát học sinh, động viên, khích lệ để giúp các em tự tin, mạnh dạn hơn. Một số slide trong trò chơi “Xây nhà” được thiết kế trong tiết Luyện tập. *Khởi động trên nền nhạc vui nhộn Học sinh hứng thú trên nền nhạc bài hát “Hòa nhịp giáng sinh.” 12 Học sinh sẵn sàng trước tiết học. Tóm lại, việc tạo tâm thế thoải mái, sẵn sàng trước tiết học vô cùng quan trọng. Giáo viên cần linh hoạt lựa chọn các hình thức phù hợp giúp tăng cường sự chú ý và tập trung, đồng thời khuyến khích học sinh tích cực, tạo tâm thế sẵn sàng tham gia môi trường học tập. 3.2. Tạo trải nghiệm học tập độc đáo thông qua sản phẩm học tập sáng tạo. * Sử dụng phiếu học tập sáng tạo. Việc thiết kế phiếu học tập sáng tạo giúp học sinh trải nghiệm trong môn Toán đã mang đến nhiều lợi ích. Giáo viên có thể thiết kế một số dạng phiếu học tập, học thông qua chơi bằng phiếu câu đố, bài tập Toán thú vị, có tính khám phá và sáng tạo. Đồng thời cung cấp một phần trống để học sinh ghi lại quá trình giải quyết bài toán và kết quả của học sinh thông qua các hình ảnh, biểu đồ minh hoa để làm cho phiếu học tập trở nên sinh động, hấp dẫn hơn đồng thời khuyến khích học sinh suy luận và đưa ra các lập luận logic để giải quyết vấn đề. Ví dụ 1: Trong Bài 75: Luyện tập. Sau khi đã cung cấp cho các em đủ kiến thức, kĩ năng để thực hiện phép cộng, trừ phân số có cùng mẫu số, khác mẫu số. Tôi đã thiết kế phiếu học tập “Con thuyền Toán học”. 13 Mỗi học sinh sẽ hoàn thành các phép tính của bài tập 1, sau đó tiến hành trang trí sản phẩm và chia sẻ phiếu học tập với bạn. Học sinh thỏa sức sáng tạo qua phiếu học tập “Con thuyền Toán học” Học sinh hứng thú với sản phẩm học tập “Con thuyền Toán học”. Như vậy, việc thiết kế phiếu học tập sáng tạo đã giúp học sinh tích cực tham gia hoạt động, lớp học thêm sôi nổi. Ví dụ 2: Trong Bài 53: Khái niệm phân số. Ở bài tập 5, tôi tổ chức hoạt động “Sáng tạo cùng phân số”. Học sinh sử dụng giấy màu, bìa để biểu diễn các phân số và sáng tạo nên các sản phẩm hình robot, hình ngôi nhà, 14 Học sinh học tập chủ động thông qua bài học STEM. Qua hoạt động này, học sinh được khắc sâu về các thành phần của phân số. Đồng thời kích thích khả năng sáng tạo trong Toán học. *Thiết kế sổ tay Toán học để tổng hợp hóa kiến thức. Để giúp học sinh dễ dàng tổng hợp hóa kiến thức, thuận tiện trong quá trình ôn tập, củng cố, tôi đã hướng dẫn học sinh thiết kế “Sổ tay Toán học” qua các bước sau: Bước 1: Chọn một cuốn sổ tay có kích thước phù hợp. Bước 2: Học sinh ghi chép và tổng hợp các khái niệm quan trọng, quy tắc, công thức và ví dụ minh họa từ bài giảng hoặc sách giáo khoa. Bước 3: Học sinh sử dụng màu sắc và đồ họa để làm nổi bật các thông tin quan trọng để giúp học sinh hiểu và ghi nhớ dễ dàng hơn. Bước 4: Học sinh nên kiểm tra và cập nhật sổ tay của mình. Học sinh hào hứng, say mê thiết kế “Sổ tay Toán học” 15 3.3. Phát huy năng lực Toán học của học sinh thông qua hoạt động tập thể - Vừa học vừa chơi. Việc sử dụng các bài hát, bài vè và đồng dao về các kiến thức Toán học là một cách sáng tạo và thú vị để kích thích sự hứng thú của học sinh trong các hoạt động tập thể đồng thời phát huy năng lực Toán học của học sinh. Để thực hiện, giáo viên có thể sưu tầm những bài hát ngắn và vui nhộn về các khái niệm cơ bản trong Toán học như cộng, trừ, nhân, chia về số tự nhiên, phân số hay các yếu tố hình học. Đồng thời kết hợp sử dụng âm nhạc và điệu nhảy để làm bài hát thêm sinh động và dễ nhớ, học sinh hát, nhảy theo những động tác minh họa về các khái niệm trong Toán học. Học sinh sôi nổi tham gia hoạt động “Vui cùng số tự nhiên”. Học sinh sôi nổi tham gia trò chơi “Tạo hình, tạo góc”. 16 Việc kết hợp giữa học và chơi thông qua các bài hát, bài vè đồng dao về kiến thức Toán học đã tạo điều kiện để học sinh tham gia tích cực vào các hoạt động tập thể đồng thời tạo môi trường học tập chủ động, sáng tạo và thú vị. Đồng thời, cần tạo ra một môi trường hỗ trợ và động viên để khuyến khích sự tự tin và sáng tạo trong việc giải quyết các bài toán toán học. 3.4. Ứng dụng CNTT, sử dụng trí tuệ AI vào dạy học. Một trong những định hướng đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực là ứng dụng CNTT vào dạy học, điển hình là sử dụng giáo án điện tử. Ngày nay, giáo án điện tử được sử dụng rất phổ biến bởi những tiện ích mà nó đem lại nhưng làm thế nào để mỗi giáo án điện tử có chất lượng, thực sự phát huy được hiệu quả, góp phần tạo hứng thú cho học sinh trong mỗi giờ học mà không gây sự nhàm chán thì cần sự sáng tạo, sự đầu tư nghiêm túc của giáo viên. Bởi vậy, tôi luôn đầu tư thời gian, công sức, trí tuệ cho mỗi bài soạn, sử dụng linh hoạt và phong phú các hiệu ứng. Ứng dụng CNTT trong dạy học vừa là nội dung dạy học vừa là phương tiện dạy học trong dạy học hiện đại. Bên cạnh việc sử dụng CNTT như một phương tiện hỗ trợ, cần tăng cường sử dụng các phần mềm dạy học tương tác trực tiếp với học sinh như bài giảng điện tử E-Learning, tiếp cận kho học liệu trên trang web OLM, Edulive CNTT cung cấp một nền tảng để tạo ra các cổng thông tin trực tuyến cho lớp học, trường học hoặc hệ thống giáo dục. Các cổng thông tin này có thể chứa thông tin về lịch trình học tập, tài liệu giảng dạy, bài tập và bài kiểm tra, cũng như diễn đàn trực tuyến để hỗ trợ giao tiếp và hợp tác giữa giáo viên và học sinh. Cung cấp cơ hội để tạo ra các trò chơi giáo dục, giúp học sinh hấp thụ kiến thức một cách thú vị và tương tác. 17 Học sinh ứng dụng CNTT trong học tập. Học sinh chủ động khám phá kho học liệu trên Edulive. Công nghệ AI có thể được sử dụng để tự động hóa một số nhiệm vụ quản lý lớp học, như ghi chú điểm danh, theo dõi tiến độ học tập và quản lý tài liệu. Điều này giúp giảm bớt gánh nặng cho giáo viên và tạo điều kiện cho họ tập trung hơn vào việc giảng dạy và hỗ trợ học sinh. Tăng cường công tác tập huấn về ứng dụng công nghệ AI cho giáo viên và học sinh, tổ chức tốt các cuộc thi tài năng Toán học trên máy tính thông minh. Qua đó, rút kinh nghiệm và đề xuất các biện pháp và phương hướng giáo dục tích cực, hiện đại, phù hợp với xu thế giáo dục trong kỉ nguyên số. 18 Học sinh chủ động học tập trực tuyến trên trang web OLM. Tôi đã tìm hiểu các tính năng và hiệu quả trên phần mềm Beeclass và nhận thấy rằng phần mềm này giúp xây dựng hình ảnh tích cực về học sinh, khuyến khích sự cạnh tranh lành mạnh. Đồng thời, Beeclass tăng sự tương tác giữa giáo viên và học sinh, giúp giáo viên kịp thời điều chỉnh hành vi và kế hoạch giáo dục cho phù hợp. Khuyến khích HS tích cực tham gia vào tiết học bằng cách tích điểm thưởng. 19 Giáo viên thiết kế video hoạt hình ứng dụng vào dạy học bằng web Canva. 3.5. “Thầy cô, bố mẹ, bạn bè luôn đồng hành cùng con”. * Thầy cô luôn lắng nghe Trong quá trình dạy học, tôi luôn tạo môi trường học tập tích cực, mối quan hệ thân thiện, gần gũi giữa cô và trò. Vào những giờ ra chơi, tôi thường trò chuyện, tâm sự và khuyến khích các em mạnh dạn, tự tin hơn các tiết học. Bên cạnh đó, tôi luôn lắng nghe những ý kiến, sự góp ý của HS để bản thân được hoàn thiện và nâng cao năng lực chuyên môn hơn nữa. Học sinh mạnh dạn trao đổi, góp ý với giáo viên ngoài giờ lên lớp. 20 Học sinh giao lưu với giáo viên vào giờ ngoại khóa. *Bố mẹ luôn đồng hành cùng con. Bên cạnh đó, tôi luôn phối kết hợp với phụ huynh trong việc quản lí, hỗ trợ và hướng dẫn con học tập. Ngày từ đầu năm học, tôi đề cập đến trách nhiệm của gia đình trong việc chăm lo giáo dục con em cũng như phối hợp chặt chẽ với giáo viên để phụ huynh nắm rõ, hiểu rõ mục tiêu và nội dung chương trình môn học, những biện pháp giáo dục tích cực phù hợp đặc điểm tâm, sinh lý của con. Phụ huynh luôn đồng hành cùng con trong học tập.
Tài liệu đính kèm:
skkn_mot_so_bien_phap_giup_hoc_sinh_hung_thu_phat_huy_tich_c.pdf



