SKKN Một số biện pháp xây dựng lớp học hạnh phúc cho học sinh Tiểu học (GV: Nguyễn Thị Anh - Trường TH Trần Phú)

pdf 25 trang Di Di 23/03/2026 30
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Một số biện pháp xây dựng lớp học hạnh phúc cho học sinh Tiểu học (GV: Nguyễn Thị Anh - Trường TH Trần Phú)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
 PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TP BẮC GIANG 
 TRƯỜNG TIỂU HỌC TRẦN PHÚ 
 BIỆN PHÁP 
Một số biện pháp xây dựng lớp học hạnh phúc cho 
 học sinh Tiểu học 
 Họ và tên: Nguyễn Thị Anh 
 Đơn vị : Trường Tiểu học Trần Phú, thành phố Bắc 
Giang, tỉnh Bắc Giang. 
 TP. Bắc Giang, tháng 10 năm 2023 
 MỤC LỤC 
I. PHẦN MỞ ĐẦU .............................................................................................. 2 
 1. Lí do chọn đề tài ............................................................................................................... 2 
 2. Mục đích nghiên cứu ........................................................................................................ 3 
 3. Nhiệm vụ nghiên cứu ........................................................................................................ 3 
 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................................... 3 
 5. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................................. 4 
II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU .......................................................................... 4 
 1. Cơ sở lí luận ...................................................................................................................... 4 
 1.1. Khái niệm về hạnh phúc ....................................................................................... 4 
 1.2. Lớp học hạnh phúc ................................................................................................ 4 
 1.3. Tiêu chí xây dựng lớp học hạnh phúc ................................................................. 5 
 2. Cơ sở thực tiễn .................................................................................................................. 8 
 2.1. Về giáo viên: .......................................................................................................... 8 
 2.2. Về học sinh: ........................................................................................................... 9 
 3. Các giải pháp chủ yếu .................................................................................................... 10 
 3.1. Nắm bắt chính xác và cụ thể từng đối tượng học sinh của lớp chủ nhiệm ...... 10 
 3.2. Tiết học hạnh phúc. ............................................................................................. 11 
 3.3. Giáo viên thay đổi bản thân, kiểm soát cảm xúc ............................................. 12 
 3.4. Tăng cường các hoạt động ngoại khóa, hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học 
 sinh .............................................................................................................................. 15 
 3.5. Phối hợp chặt chẽ với gia đình phụ huynh trong việc giáo dục học sinh. ............. 18 
III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG ...................................................................... 20 
 1. Kết quả ............................................................................................................................ 20 
 2. Ứng dụng. ........................................................................................................................ 21 
IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .................................................................... 21 
 1. Kết luận ........................................................................................................................ 21 
 2. Đề xuất ............................................................................................................................. 21 
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................ 23 
 2 
 I. PHẦN MỞ ĐẦU 
 1. Lí do chọn đề tài 
 Tất cả mọi người trên thế giới đều khao khát có được hạnh phúc. Hạnh phúc 
là mưu cầu của mỗi cá nhân, là cái đích vươn đến, là mục tiêu phấn đấu trong 
cuộc đời của mỗi con người. Xem xét yếu tố hạnh phúc trên phương diện giáo dục 
cho thấy, những trường học ưu tiên sự khỏe mạnh của học sinh sẽ có kết quả học 
tập tốt hơn, học tập hiệu quả hơn và họ đạt thành tựu lớn hơn trong cuộc sống. 
Đối với người học, những trải nghiệm và kinh nghiệm học đường sẽ có ảnh hưởng 
nhất trong quá trình định hình cuộc sống sau này. Vì vậy, trường học có thể thúc 
đẩy hạnh phúc, được gọi là trường học hạnh phúc, chính là chìa khóa để đảm bảo 
học sinh được khỏe mạnh, hạnh phúc, có thành tích tốt hơn cũng như sự thành 
công trong công việc và cuộc sống tương lai. 
 Với học sinh Tiểu học, để có được hạnh phúc, trước hết là được sống trong 
một gia đình hạnh phúc, được sự yêu thương của bố mẹ và người thân. Bên cạnh 
đó, các em cần được trưởng thành trong một ngôi trường hạnh phúc – nơi các em 
được học tập, được vui chơi, chia sẻ, được thấu hiểu, yêu thương và tôn trọng. 
Nhưng thực tế thì sao? Hàng loạt những chuyện không vui đã và đang xảy ra trong 
môi trường học đường: tỉ lệ stress học đường tăng nhanh chóng, bạo lực học 
đường ở mức báo động, mối quan hệ thầy trò ngày càng căng thẳng, phụ huynh 
đòi hỏi ở giáo viên quá cao . tất cả những điều đó được phản ánh thường xuyên 
qua các kênh truyền thông, là một điều nhức nhối của xã hội nói chung và nền 
giáo dục nói riêng. 
Câu hỏi lớn lúc này là: Làm thế nào để mỗi ngày học sinh đến trường là một ngày 
vui, giáo viên đến trường là một niềm hạnh phúc, quan hệ thầy trò là động lực để 
học sinh vươn tới tri thức? Theo tôi, xây dựng trường học hạnh phúc là việc làm 
cấp thiết cần được các nhà giáo dục quan tâm lúc này. Muốn vậy, ta cần bắt đầu 
xây dựng hạnh phúc từ chính lớp học của mình. 
 Hiện tại có rất ít tài liệu bàn sâu và đưa ra giải pháp cho vấn đề này, đồng 
nghiệp, nhà trường chưa có nhiều kinh nghiệm để giải quyết và khắc phục. Chính 
 3 
vì vậy, tôi chọn đề tài “Một số giải pháp xây dựng trường học hạnh phúc cho học 
sinh Tiểu học” để tìm ra câu trả lời thiết thực nhất cho mình, cho đồng nghiệp và 
cho các em học sinh. 
 2. Mục đích nghiên cứu 
 Tôi nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích: 
 - Giúp cho học sinh được hạnh phúc mỗi khi đến lớp, trong mỗi tiết học. 
học sinh hứng thú, tích cực học tập. 
 - Bản thân tôi có điều kiện tự nhìn nhận, đánh giá lại phương pháp giáo dục 
của mình, khắc phục hạn chế, phát huy ưu điểm, nâng cao chất lượng công tác 
chủ nhiệm ở những năm học tiếp theo. 
 -Thông qua đề tài, tôi có cơ hội để trao đổi về phương pháp chủ nhiệm 
cùng với đồng nghiệp. Trên cơ sở đó, tôi có thể mở rộng và vận dụng tùy từng 
hoàn cảnh cụ thể của nhà trường, của từng lớp chủ nhiệm để đạt kết quả tốt hơn 
trong việc giáo dục học sinh, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và uy tín 
của nhà trường. 
 - Đề xuất một số số giải pháp xây dựng trường học hạnh phúc cho học sinh 
Tiểu học. 
 3. Nhiệm vụ nghiên cứu 
 Tìm hiểu cơ sở lí luận của việc xây dựng số số giải pháp xây dựng trường 
học hạnh phúc cho học sinh Tiểu học 
 Tìm hiểu thực tiễn giáo dục về việc xây dựng trường học hạnh phúc cho 
học sinh Tiểu học hiện nay. 
 Đề xuất một số giải pháp xây dựng trường học hạnh phúc cho học sinh 
Tiểu học. 
 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 
 - Đối tượng: Học sinh lớp 4A4 
 - Thời điểm: Năm học 2022 – 2023 
 4 
 Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu một số giải pháp xây 
dựng trường học hạnh phúc cho học sinh Tiểu học được thực nghiệm tại lớp 4 nơi 
tôi đang công tác. 
 5. Phương pháp nghiên cứu 
 Phương pháp nghiên cứu lí luận. 
 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn. 
 Phương pháp tổng hợp. 
 Phương pháp thực nghiệm. 
 II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 
 1. Cơ sở lí luận 
 1.1. Khái niệm về hạnh phúc 
 - “Hạnh phúc là cảm xúc vui sướng, hài lòng của con người trong cuộc sống 
khi được đáp ứng, thoả mãn các nhu cầu vật chất và tinh thần” Hạnh phúc cá nhân 
gắn liền với hạnh phúc xã hội, không có hạnh phúc riêng lẻ. 
 - Hạnh phúc của học sinh tiểu học rất đơn giản và có thể thực hiện được như: 
 + Luôn cố gắng đạt được kết quả cao trong học tập để bố mẹ và thầy cô 
vui lòng. 
 + Luôn được sự động viên, khen ngợi của mọi người về thành tích học tập 
và cách ứng xử của mình. 
 + Được sống và học tập trong môi trường gia đình, môi trường giáo dục có 
đầy đủ điều kiện về vật chất và tinh thần. 
 + Được chia sẻ và có cơ hội thể hiện mình. 
 1.2. Lớp học hạnh phúc 
 Với tôi, hiểu một cách đơn giản, lớp học hạnh phúc là nơi khiến cả cô và 
trò đều có cảm giác "muốn đến". Khi đến sẽ có hứng thú, niềm vui, sự mong chờ 
và cả những rung cảm. Lớp học hạnh phúc là nơi có thể cảm nhận được sự an 
toàn, sự nâng đỡ hay sự thú vị khi có nhiều điều nằm trong nhu cầu được thoả 
 5 
mãn. Lớp học hạnh phúc là khởi đầu cho việc xây dựng một trường học hạnh 
phúc. Đó là nơi mang lại môi trường phát triển toàn diện, kích thích hứng thú học 
tập – vui chơi của trẻ, tạo dựng niềm tin và sự hài lòng cho phụ huynh. Đồng thời 
xây dựng được đội ngũ giáo viên nhiệt huyết, yêu nghề, yêu trẻ cũng như tối ưu 
hóa công tác quản lý nhà trường. 
 Học sinh đến trường như thế nào là hạnh phúc, có thể quy thành một mệnh đề: 
Mỗi ngày đến trường là một ngày vui. Bên cạnh đó, người học cảm thấy có niềm tin, 
có rung động, có động lực khi đến lớp và dễ nhớ nhung nếu không đến lớp . 
 Khi xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu xã hội ngày càng cao, việc xây dựng 
lớp học hạnh phúc ngày càng trở nên quan trọng. Khi xây dựng được những lớp 
học hạnh phúc, trường học hạnh phúc thì lúc đó giáo viên và học sinh đều cảm thấy 
thoải mái, vui vẻ, hứng thú trong dạy - học. Lớp học hạnh phúc, trường học hạnh 
phúc phải trên cơ sở cô và trò hiểu nhau, tôn trọng lẫn nhau. Từ đó, tạo điều kiện 
để học sinh được phát triển bản thân mình và hạnh phúc khi là chính mình. Đây là 
việc làm không vì thành tích, mà coi đó là việc làm để nhà trường, giáo viên và học 
sinh thực sự thay đổi. Mặt khác, đó là việc làm mang tính chất khoa học chứ không 
phải vì một chủ trương nào đó để áp đặt. Khi mọi người cùng tìm được niềm vui, 
niềm hạnh phúc thì họ sẽ thấy được chân lý và tự điều chỉnh với nhau. 
 Kết quả khảo sát của tôi trên 40 học sinh lớp tôi chủ nhiệm, 6 điều học sinh 
mong muốn ở giáo viên để việc học được hạnh phúc hơn đã cho kết quả thật bất 
ngờ. Kết quả thống kê như sau: 
 Mong muốn của học sinh Kết quả 
 1 Mong cô giáo cười nhiều hơn. 92,8% 
 2 Mong được học tập xen lẫn vui chơi. 85% 
 3 Mong cô nhẹ nhàng hơn khi học sinh làm sai. 84% 
 4 Mong được khen thưởng nhiều hơn trách móc 79% 
 5 Mong cô không phê bình trước mặt bạn bè. 71% 
 6 Mong được khám phá thực tế 65% 
 1.3. Tiêu chí xây dựng lớp học hạnh phúc 
 6 
 Đánh giá về những bất cập, hạn chế của lĩnh vực giáo dục những năm qua, 
Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng nêu rõ: "Đổi mới tư duy và hoạt 
động giáo dục và đào tạo chưa đáp ứng tốt yêu cầu đặt ra Chưa chú trọng đúng 
mức đến phát triển phẩm chất và kỹ năng người học. Giáo dục làm người, đạo đức 
lối sống có lúc, có nơi bị xem nhẹ Còn không ít tiêu cực trong giáo dục và đào 
tạo".Vì thế xây dựng mô hình trường học hạnh phúc là một trong những việc làm 
hàng đầu cần được quan tâm và thực hiện trong các nhà trường hiện nay. Quan 
điểm chỉ đạo về xây dựng trường học hạnh phúc: xây dựng “Trường học hạnh 
phúc” là một trong những hoạt động trọng tâm của ngành Giáo dục từ năm học 
2018 - 2019 và những năm tiếp theo, nhằm giúp cho đội ngũ giáo viên ngày càng 
vững mạnh mọi mặt và sẵn sàng tích cực đồng hành với lộ trình đổi mới giáo dục 
của nước nhà. Lớp học hạnh phúc là mỗi học sinh trong lớp học đều cảm nhận 
được sự ấm áp, yêu thương từ thầy cô, bạn bè. Đến lớp các em đón nhận nhiều 
niềm vui và nếu có nỗi buồn, khó khăn thì luôn được san sẻ. Hạnh phúc với người 
học đôi khi rất giản dị, đó có thể là một lời hỏi thăm, nhắn nhủ, động viên; một 
lời phê, nhận xét chính xác, chân tình; một giờ giảng hay, hấp dẫn; một phong 
cách giản dị, trong sáng, mực thước với trí tuệ uyên bác của thầy cô đều để lại 
những ấn tượng, hình ảnh đẹp sẽ theo người học suốt cuộc đời. Hạnh phúc còn là 
khi nỗ lực, cố gắng của người học được đền đáp, ghi nhận qua những điểm số 
chính xác, bằng những phần thưởng nho nhỏ động viên; là sự chân thành, hồn 
nhiên, trong sáng của tình bạn Những hành động đẹp, lời nói đẹp, cảnh quan 
đẹp của thầy cô, bè bạn, mái trường đều góp phần dệt nên xúc cảm hạnh phúc, 
hân hoan rong trái tim, suy nghĩ tuổi học trò. Khi các em học sinh cảm thấy được 
hạnh phúc, được quan tâm, yêu thương;thấy trường học thực sự là nơi hữu ích, sẽ 
tạo cho các em sự phấn chấn, mê say trong học tập, nghiên cứu khoa học để trở 
thành người hữu ích cho xã hội. Vì thế,có thể nói trường học hạnh phúc, lớp học 
hạnh phúc là nền tảng, bệ đỡ tinh thần đểnhững ý tưởng, mục tiêu giáo dục, đào 
tạo được thực thi một cách hiệu quả, ý nghĩa nhất. Để xây dựng một lớp học hạnh 
phúc cần đảm bảo 3 tiêu chí sau: 
 7 
 Tiêu chí 1: Về môi trường lớp học và phát triển cá nhân 
 - Học sinh tham gia đầy đủ các hoạt động giao lưu văn nghệ, TDTT, trò 
chơi dân gian trong lớp, trong trường; được học tập và tham gia các hoạt động 
giáo dục kĩ năng sống để tăng cường sức khoẻ thể chất và tinh thần của học sinh. 
 - Phòng học được sắp xếp, bài trí gọn gàng, đạt chuẩn theo quy định, đảm 
bảo an toàn, phòng chống tai nạn thương tích. 
 - Phối hợp với phụ huynh phát huy mọi nguồn lực để tạo dựng khung cảnh 
sư phạm lớp học thêm sáng - thoáng - xanh - sạch - đẹp, thân thiện và cởi mở. 
 - Giáo viên chủ thường xuyên sử dụng các biện pháp quản lý, giáo dục kỉ 
luật tích cực. Phát huy hiệu quả vai trò của công tác tư vấn học đường tại lớp. 
 - Thực hiện tốt vệ sinh an toàn thực phẩm trong ăn uống hàng ngày tại 
trường. 
 - Tạo cơ hội để mỗi học sinh, mỗi thầy cô giáo đều được phát triển tối đa 
tiềm năng của bản thân, không ai bị bỏ lại, không ai bị lãng quên, tất cả đều thay 
đổi để phù hợp và tiến bộ hơn so với chính mình. 
 Tiêu chí 2: Về dạy và học 
 - Trong mọi hoạt động giáo dục, hoạt động dạy và học, thầy cô giáo là tấm 
gương cho học sinh noi theo. 
 - Thầy cô thực hiện việc phân công nhiệm vụ cho học sinh một cách công 
bằng, hợp lý, phù hợp với điều kiện và khả năng của bản thân. 
 - Mọi hoạt động liên quan đến kế hoạch của lớp đều được bàn bạc, cởi mở, 
lắng nghe, thấu hiểu và đối thoại tích cực. 
 - Phương pháp và hình thức tổ chức dạy học của các thầy cô chú trọng tạo 
hứng thú, phù hợp, thấu hiểu và chấp nhận sự khác biệt về tâm lí, thể chất, hoàn 
cảnh của từng em. 
 - Thầy cô tạo nhiều cơ hội cho các con được phản hồi, sáng tạo và gắn kết, 
được chủ động thể hiện quan điểm, ý tưởng, thói quen làm việc nhóm và hợp tác. 
 8 
 - Thầy cô không gây áp lực cho học sinh trong việc quản lý lớp và giảng 
dạy kiến thức. Học tập với tinh thần “học – vui; vui – học” 
 Tiêu chí 3: Về các mối quan hệ trong lớp 
 - Học sinh và giáo viên biết chia sẻ, động viên, hỗ trợ lẫn nhau trong các 
nhiệm vụ được giao của lớp. 
 - Học sinh kính trọng, lễ phép với thầy cô, đoàn kết với bạn bè, không có 
sự phân biệt, đối xử kì thị. 
 - Thầy cô lắng nghe tích cực, phản hồi mang tính xây dựng trong xử lý tình 
huống với cha mẹ học sinh và học sinh. 
 Và để xây dựng lớp học, trường học hạnh phúc, đúng như nguyên Bộ trưởng 
Bộ Giáo dục và Đào tạo Phùng Xuân Nhạ từng nhấn mạnh, có ba tiêu chí để xây 
dựng nên một trường học hạnh phúc, đó là: yêu thương, an toàn và tôn trọng; đồng 
thời xác định hoạt động nâng cao năng lực ứng xử sư phạm, đạo đức nhà giáo – 
người lao động là yếu tố quyết định để xây dựng nên một trường học hạnh phúc. 
Đây được xem là một hoạt động trọng tâm của ngành Giáo dục từ năm học 2018 
– 2019 đến những năm tiếp theo, nhằm giúp cho đội ngũ giáo viên ngày càng 
vững mạnh về mọi mặt và sẵn sàng tích cực đồng hành với lộ trình đổi mới giáo 
dục của nước nhà. 
 2. Cơ sở thực tiễn 
 2.1. Về giáo viên: 
 Đầu năm, tôi có thực hiện một cuộc khảo sát toàn bộ giáo viên trong trường 
với câu hỏi “ Thầy cô có hạnh phúc khi đến trường không?” Kết quả đa số các 
thầy cô rất ít hạnh phúc khi đến trường, nguyên nhân chủ yếu là do giáo viên bị 
áp lực từ nhiều phía: 
 - Khối lượng kiến thức, nội dung chương trình. 
 - Kết quả thi, thành tích trong giáo dục. 
 - Áp lực từ phía phụ huynh, từ phía xã hội. 
 9 
 - Áp lực từ chính bản thân mỗi giáo viên: Giáo viên luôn mong muốn học 
sinh phải hoàn thành tốt những điều mà mình đã đưa ra và khi học sinh không đạt 
được những kì vọng ấy, chúng ta trở nên chán nản, mệt mỏi, nhiệt huyết với nghề 
giảm sút, thậm chí có giáo viên còn có ý định bỏ nghề. Và thế là, với giáo viên và 
học sinh, mỗi ngày đến trường không còn là một ngày vui, lớp học không còn là 
lớp học theo đúng nghĩa của giáo dục. 
 2.2. Về học sinh: 
 Tính đến nay, tôi công tác trong ngành Giáo dục được hơn 10 năm. Tôi thấy 
học sinh nơi tôi công tác nhìn chung cơ bản ngoan, tuy nhiên ý thức học tập của 
một bộ phận học sinh chưa cao, phụ huynh do mưu sinh nên chưa thật quan tâm 
đến việc học của con. 
 Tôi đã tiến hành khảo sát tâm lý của lớp học sinh lớp 4 tôi đã dạy gần đây 
nhất, đó là lứa học sinh niên khoá 2022 – 2023 vào tháng 09/2022 với câu hỏi “ 
Con có hạnh phúc khi đến trường không?”. Tôi nhận được kết quả trên 40 học 
sinh như sau: 
 Mức độ Số học sinh % 
 1 Chưa bao giờ hạnh phúc 4 10 
 2 Hiếm khi hạnh phúc 5 13 
 3 Thỉnh thoảng hạnh phúc 19 47 
 4 Thường xuyên hạnh phúc 12 30 
 Từ kết quả trên, ta nhận thấy vẫn có học sinh chưa bao giờ hạnh phúc và 
hiếm khi hạnh phúc khi đến trường, tỉ lệ học sinh thỉnh thoảng hạnh phúc cao hơn 
nhiều so với tỉ lệ học sinh thường xuyên hạnh phúc. 
 Nguyên nhân chủ quan: 
 - Ý thức học tập chưa cao, hiếu động, nghịch ngợm. 
 - Thiếu tự tin, ngại giao tiếp, không biết thể hiện bản thân. 
 Nguyên nhân khách quan: 
 10 
 - Do áp lực học hành và sự kì vọng của thầy cô, cha mẹ. 
 - Do do không được chia sẻ, không được quan tâm từ bạn bè và thầy cô, 
gia đình. 
 - Do tiết học của thầy cô không gây được hứng thú. 
 3. Các giải pháp chủ yếu 
 3.1. Nắm bắt chính xác và cụ thể từng đối tượng học sinh của lớp chủ 
nhiệm 
 Bản thân tôi ra trường đã hơn 10 năm, thực hiện công tác chủ nhiệm nhiều 
năm, khi đứng trước nhiều đối tượng học trò với nhận thức, tính cách, hoàn cảnh 
sống khác nhau, tôi luôn tìm ra những biện pháp khác nhau để hoàn thành tốt 
nhiệm vụ. Trong đó, tôi luôn tâm niệm và đề cao biện pháp đầu tiên có ý nghĩa 
quyết định, đó là: giáo viên chủ nhiệm hãy biến mình là người mẹ thứ 2 của tập 
thể lớp. Thật vậy, giáo viên chủ nhiệm chính là linh hồn của tập thể lớp, vừa là 
nhà quản lí, vừa là nhà giáo dục trong một tập thể thu nhỏ. Giáo viên chủ nhiệm 
được coi là “người mẹ” của một lớp, là người gần gũi học sinh nhất, hiểu rõ tâm 
tư tình cảm của học sinh, luôn trực tiếp uốn nắn kịp thời những hành vi sai trái 
của học sinh và giúp đỡ học sinh. Giáo viên chủ nhiệm cũng là người kịp thời phát 
hiện và phát huy những năng lực nổi bật và phẩm chất học sinh. 
 Để xây dựng lớp học hạnh phúc, trước hết tôi phải để các em coi mình như 
“người mẹ thứ hai”. Muốn vậy. giáo viên chủ nhiệm phải gần gũi và yêu thương 
các em. Đồng thời tôi cũng là chỗ dựa vững chắc để học sinh trao đổi tâm sự cùng 
những niềm vui, tháo gỡ những vướng mắc trong học tập và cuộc sống. 
 Vì vậy, khi được Ban Giám hiệu phân công lớp chủ nhiệm, trước hết tôi đã 
tìm hiểu hoàn cảnh, đặc điểm tâm sinh lí, ưu điểm và hạn chế của học sinh thông 
qua các biện pháp sau: 
 + Nghiên cứu học sinh: năng khiếu, sở thích, đặc điểm cá biệt 
 + Gặp giáo viên chủ nhiệm cũ để trao đổi, nắm bắt thông tin từng học sinh 
 + Nắm bắt thông tin qua phiếu điều tra cơ bản sau: 
 11 
 3.2. Tiết học hạnh phúc. 
 Để tổ chức tốt một tiết học cho cả lớp đòi hỏi giáo viên phải thường xuyên 
nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và khả năng sử dụng ứng dụng công 
nghệ thông tin vào bài dạy, có phương pháp dạy học hiệu quả, tạo hứng thú, lôi 
cuốn người đọc. Một lớp học hạnh phúc được xây dựng chủ yếu dựa trên các mối 
quan hệ tích cực. Bởi vậy, trong mỗi giờ học, tôi đã mạnh dạn thực hiện những 
việc làm sau: Bắt đầu vào tiết học, tôi cho học sinh khởi động bằng một số việc 
làm đơn giản như vài động tác thể dục, một bài hát để kích thích những cảm xúc 
tích cực trong học sinh, từ đó các con thu nhận kiến thức dễ dàng hơn. 
 Với tôi, mỗi giờ lên lớp là một sự đổi mới. Việc đổi mới phương pháp dạy 
học luôn được chú trọng, trong mỗi tiết học, học sinh được phát huy tối đa vai trò 
chủ động, sáng tạo trong việc hình thành và tiếp nhận kiến thức mới cũng như vận 
dụng vào thực tiễn. Mọi đối tượng học sinh đều được quan tâm và được ghi nhận 
kết quả làm việc trong mỗi giờ học. 
 Trò chơi là một phần không thể thiếu trong mỗi tiết học, đặc biệt với lứa tuổi 
trẻ tiểu học. Vì vậy, không một tiết học nào của tôi là không có trò chơi. Trò chơi 
 12 
khởi động, trò chơi củng cố hay trò chơi giữa giờ đều giúp các em cảm thấy thoải 
mái, từ đó phấn khích, sẵn sàng tham gia vào các hoạt động tiếp theo. Thông qua 
trò chơi, tôi nhận ra rằng học sinh sẽ hứng thú hơn trong việc tìm hiểu kiến thức, 
các em được thảo luận, hợp tác, dần dần tìm được tiếng nói chung. Giáo viên lúc 
này sẽ là người quan sát, tư vấn, kiểm định kết quả và hoàn thiện câu trả lời. 
 Các em hào hứng trong các tiết học 
 3.3. Giáo viên thay đổi bản thân, kiểm soát cảm xúc 
 Tôi rất tâm đắc một câu nói của thiền sư Thích Nhất Hạnh, một câu nói 
bao hàm tất cả những giá trị và vị ngọt hướng gửi đến những ai làm về giáo 
dục “Thầy cô hạnh phúc sẽ thay đổi cả thế giới”. Vì vậy, người giáo viên phải 
hạnh phúc và biết kiểm soát cảm xúc của mình mới có thể làm cho học sinh của 
mình hạnh phúc được. 
 Thật ra, ai cũng có thể nhận ra và tạo ra hạnh phúc của riêng mình. Đó là 
hãy quan tâm đến việc làm cho mình khỏe, duy trì cảm xúc tích cực để từ đó làm 
việc tốt, sống tốt. Việc duy trì, kiểm soát cảm xúc tích cực rất hữu hiệu. Đó là việc 
 13 
tìm ra những điều tốt ngay cả trong sự việc tiêu cực, không mấy tốt đẹp vừa xảy 
ra; đó là mong muốn cải tiến để giúp ta làm gì cũng có khả năng hoàn thiện. Mỗi 
thầy cô có thể tạo ra sức khỏe của mình bằng cách duy trì tập thể dục, lao động có 
kế hoạch, hợp lý, ưu tiên việc quan trọng. Ở ngôi trường của chúng tôi, việc duy 
trì và phát triển phong trào thể dục thể thao luôn được quan tâm chú trọng. Ngoài 
các giờ lên lớp, cả thầy và trò đều tích cực tham gia các hoạt động thể dục thể 
thao rèn luyện sức khỏe cũng như giao lưu gắn kết các thành viên với nhau. 
 Thầy cô và các em cùng tham gia thể dục thể thao 
 Để tạo một bầu không khí thân thiện, vui vẻ trong giờ học giáo viên nên 
cười nhiều hơn với học sinh. Đúng như ông cha ta đã nói “ Một nụ cười bằng 
mười thang thuốc bổ”, lợi ích của nụ cười đã được khoa học chứng minh. Việc 
này tưởng đơn giản nhưng không phải giáo viên nào cũng làm được vì giáo viên 
chưa biết cách quản lý cảm xúc của mình, không có tính hài hước nhưng chúng ta 
sẽ làm được nếu ta có tâm với nghề, yêu thương học sinh như những đứa con của 
mình. Cụ thể: 
 14 
 - Tôi chào đón học sinh của mình đầu ngày mới với nụ cười thật tươi và cái 
bắt tay, cái ôm thật thân thiện, làm cho các con cảm thấy được chào đón, được 
thấy mình là một phần của lớp, của trường. 
 - Vào các giờ ra chơi, tôi tham gia trò chuyện, tâm sự với các con, tạo sự 
gần gũi, thoải mái, xoá bỏ đi bức tường ngăn cách giữa cô và trò. 
 - Lồng ghép sự hài hước vào trong lớp học bằng lời nói, biểu cảm, hành 
động của giáo viên.Ví dụ, khi học sinh mắc lỗi khi đang nói, thay vì cắt ngang 
hay sửa lại, tôi thường làm khuôn mặt khôi hài để giúp học sinh nhìn ra được lỗi 
của mình mà sửa sai. Hoặc đó có thể là một câu bình luận khôi hài, lời nói thú vị 
diễn ra tự phát trong các tình huống xảy ra trong giờ học. 
 Giáo viên hướng dẫn nhẹ nhàng khi học sinh làm sai, giữ bình tĩnh khi học 
sinh mắc lỗi, không phê bình nặng lời, gay gắt trước mặt người khác; Khích lệ, 
khen thưởng các em nhiều hơn. Cụ thể: 
 - Tâm lí chung của học sinh là sợ trả lời sai, có em còn hỏi “ Làm sai có bị 
sao không ạ?” Trong tình huống đó, tôi có thể nói vui rằng: “Sai à? Không sao, 
cô cảm ơn”. Cảm ơn ở đây là cảm ơn em đã dũng cảm sửa lỗi sai, đó là bài học 
sâu sắc cho mỗi học sinh trong lớp. 
 - Giáo viên nhận xét, góp ý một các khéo léo về những điều các con làm sai 
hoặc làm chưa tốt, không nên chê bai. Mỗi lời nói, hành động của thầy cô sẽ là 
nguồn lực để các em thay đổi theo hướng tích cực. 
 - Tôi thường xuyên dùng công thức “khen” trước “chê” sau, nghĩa là, dù tệ 
đến đâu cũng cố gắng tìm ra vài điểm tích cực để khen. 
 Để xứng đáng với sứ mệnh vẻ vang và cao cả trong sự nghiệp trồng người, 
xứng đáng với sự tôn vinh và niềm tin yêu của xã hội, bản thân mỗi nhà giáo 
chúng ta phải luôn có nhận thức đúng đắn, sâu sắc về vị thế của nghề sư phạm, 
 15 
trọng trách cao cả của mình trong xã hội. Tích cực tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất 
đạo đức, tác phong, lối sống, ứng xử nhân văn để mỗi nhà giáo thực sự là những 
tấm gương sáng về nhân cách, đạo đức cho học sinh noi theo. Hãy yêu thương 
học trò bằng tất cả trái tim và tấm lòng nhân ái của mình, hãy lan tỏa cho các con 
niềm tin và tình yêu vào cuộc sống, vào tương lai bằng chính những ứng xử đầy 
tính nhân văn của mình. 
 3.4. Tăng cường các hoạt động ngoại khóa, hoạt động trải nghiệm sáng 
tạo cho học sinh 
 Tổ chức lớp phải gắn liền với các hoạt động phong trào của tập thể, phong 
trào của nhà trường. Vì vậy, giáo viên cần thông qua các hoạt động tập thể để 
xây dựng cho lớp học tinh thần đoàn kết, hòa đồng. Sự quan tâm, chia sẻ giữa 
các thành viên trong lớp được hình thành và phát triển trong các hoạt động chung 
như thế. 
 Một thực tế cho thấy, nhiều giáo viên chủ nhiệm không muốn tổ chức cho 
các em quá nhiều các hoạt động vì sợ ảnh hưởng đến thời gian học của các em. 
Bố mẹ của các em cũng có tâm lí như vậy. Nhưng nếu đến trường chỉ để nhồi 
nhét kiến thức như một cái máy, các em sẽ thấy vô cùng mệt mỏi và chán chường. 
Các em muốn được vui chơi, được hoạt động, được khẳng định bản thân. Và hơn 
hết, qua hoạt động tập thể, tinh thần đồng đội sẽ được đẩy lên, sự gắn kết tập thể 
cũng được nhân lên gấp bội. Sự đoàn kết thống nhất giữa các thành viên qua các 
hoạt động tâp thể có ý nghĩa cực to lớn đối với việc xây dựng tập thể vững mạnh, 
đoàn kết. 
 Không chỉ động viên, khuyến khích các em tham gia đầy đủ các hoạt động 
bề nổi của trường theo kiểu tham gia cho có mà tôi định hướng các em tham gia 
một cách có đầu tư và có chất lượng. Tôi động viên các em tham gia và sát cánh 
 16 
cùng các em trong các phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao nhân ngày 
20/11, 08/3 
 Các em được trải nghiệm, được vui chơi, được hợp tác và chia sẻ, từ đó sẽ 
hiểu và yêu thương, sống có trách nhiệm, xây dựng một tập thể vững mạnh, đoàn 
kết và hạnh phúc. 
 Các em tham gia trải nghiệm tại thành Xương Giang 
 17 
Các bạn có thêm sự gắn kết thông qua các hoạt động 
 18 
 Buổi tổ chức Tết Trung Thu được diễn ra tại lớp 
 3.5. Phối hợp chặt chẽ với gia đình phụ huynh trong việc giáo dục học sinh. 
 Nhà trường là môi trường giáo dục toàn diện, là nơi thực hiện chức năng 
giáo dục toàn diện và có vai trò định hướng tạo ra sự thống nhất tác động đến học 
sinh. Nhà trường, giáo viên, gia đình và các đoàn thể là các lực lượng giáo dục 
thông qua đầu mối liên kết là giáo viên chủ nhiệm. Vì vậy, giáo viên chủ nhiệm 
cần nắm được chủ trương, kế hoạch của ngành, của trường trong từng năm học. 
Thông qua các cuộc họp phụ huynh giáo viên chủ nhiệm cần truyền đạt lại cho 
phụ huynh và giải đáp các thắc mắc của phụ huynh về các vấn đề liên quan. 
 Giáo viên chủ nhiệm cần thu nhận những ý kiến, tâm tư nguyện vọng của 
phụ huynh rồi phản ánh lại cho nhà trường qua đó gắn kết được trách nhiệm giữa 
gia đình và nhà trường trong việc giáo dục học sinh. 
 Giáo viên chủ nhiệm cần có mỗi quan hệ gần gũi với phụ huynh. Qua đó, 
nắm bắt được tư tưởng nguyện vọng của các em. Có những vấn đề mà trên lớp 
các em không dám nói với giáo viên chủ nhiệm và thầy cô bộ môn nhưng các em 
có thể chia sẻ cùng với bố mẹ. Thông qua bố mẹ, giáo viên chủ nhiệm sẽ tiếp thu 

Tài liệu đính kèm:

  • pdfskkn_mot_so_bien_phap_xay_dung_lop_hoc_hanh_phuc_cho_hoc_sin.pdf
  • docxSKKN-_Nguyen_Thi_Anh_-_ban_mem_67543.docx