SKKN Một số biện pháp phát huy tính tích cực của học sinh trong giờ tin học ở trường tiểu học (GV: Lê Thị Hồng Loan - Trường TH Trần Phú)

pdf 22 trang Di Di 23/03/2026 40
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Một số biện pháp phát huy tính tích cực của học sinh trong giờ tin học ở trường tiểu học (GV: Lê Thị Hồng Loan - Trường TH Trần Phú)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
 PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TP BẮC GIANG 
 TRƯỜNG TIỂU HỌC TRẦN PHÚ 
 -------------------------------- 
THUYẾT MINH MÔ TẢ GIẢI PHÁP VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN SÁNG KIẾN 
 Người thực hiện: Lê Thị Hồng Loan 
 Lĩnh vực nghiên cứu: Giáo dục và Đào tạo 
 Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Trần Phú 
 TP. Bắc Giang, tháng 01 năm 2022 
 1 
 MỤC LỤC 
 Nội dung Trang 
1. Tên sáng kiến .......................................................................................................................... 2 
2. Ngày sáng kiến được áp dụng........................................................................................ 2 
3. Các thông tin cần bảo mật................................................................................................ 2 
4. Mô tả giải pháp cũ thường làm..................................................................................... 2 
4.1.Tình trạng hiện nay........................................................................................................... 2 
4.2. Nhược điểm của giải pháp cũ .................................................................................... 4 
5. Sự cần thiết phải áp dụng giải pháp sáng kiến .................................................... 5 
6. Mục đích của giải pháp sáng kiến .............................................................................. 6 
7. Nội dung...................................................................................................................................... 7 
7.1. Thuyết minh giải pháp“Một số biện pháp phát huy tính tích cực 
của học sinh trong giờ Tin học ở Trường Tiểu học Trần Phú” ................... 7 
A. Giáo viên có kế hoạch bài dạy, xây dựng ý tưởng, thiết kế bài dạy 
phù hợp ............................................................................................................................................. 7 
B. Nắm vững nội dung chương trình mục tiêu của bài học ........................... 8 
C. Vận dụng linh hoạt một số biện pháp phát huy tính tích cực của học 
sinh trong giờ Tin học ............................................................................................................. 9 
a. Phương pháp vấn đáp ......................................................................................................... 9 
b. Phương pháp hoạt động nhóm ...................................................................................... 11 
c. Phương pháp vận dụng trò chơi học tập .................................................................. 14 
D. Khen thưởng, nêu gương ................................................................................................ 18 
E. Một số lưu ý trong giờ thực hành ............................................................................... 19 
7.1.1. Kết quả của sáng kiến................................................................................................ 20 
7.1.2. Sản phẩm được tạo ra từ giải pháp .................................................................... 20 
7.2. Thuyết minh về phạm vi áp dụng sáng kiến .................................................... 20 
7.3. Thuyết minh về lợi ích kinh tế, xã hội của sáng kiến .............................. 21 
 2 
 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM 
 Độc lập - Tự do - Hạnh phúc 
 THUYẾT MINH MÔ TẢ GIẢI PHÁP 
 VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN SÁNG KIẾN 
 1. Tên sáng kiến: 
 “Một số biện pháp phát huy tính tích cực của học sinh trong giờ Tin 
học ở Trường Tiểu học Trần Phú”. 
 2. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu: Tháng 09/2022 
 3. Các thông tin cần bảo mật: Không có 
 4. Mô tả các giải pháp cũ thường làm: 
 4.1.Tình trạng hiện nay: 
 - Nội dung chương trình môn Tin học được dạy theo bộ sách Hướng dẫn 
học Tin học Lớp 3; Hướng dẫn học Tin học Lớp 4; Hướng dẫn học Tin học Lớp 
5 do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định. 
 - Nhà trường đã trang bị phòng máy với 01 máy tính dành cho giáo viên và 
35 máy tính dành cho học sinh, 01 máy chiếu, 01 máy in, loa, ... các máy tính 
được kết nối mạng Internet tạo điều kiện thuận lợi cho việc dạy và học. 
 - Giáo viên có đủ sách giáo khoa, sách Luyện tập và thực hành, phần mềm 
giảng dạy cho học sinh ở các khối. 
 * Thuận lợi: 
 - Học sinh từ khối 3 đến khối 5 được học Tin học. 
 - Giáo viên được đào tạo chuẩn về Tin học đáp ứng yêu cầu dạy học. 
 - Nhà trường đã trang bị đầy đủ các trang thiết bị, SGK và các phần mềm 
kèm theo tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên trong việc giảng dạy. 
 - Nội dung sách nhẹ nhàng, trình bày đẹp, sách chú trọng nhiều về phần 
thực hành rất phù hợp với lứa tuổi học sinh tiểu học. 
 - Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh Tiểu học có tính hiếu động cao, các em 
thích “vừa học vừa chơi”, thích tự mình trải nghiệm trên máy tính và ghi nhớ 3 
được nhanh điều mình trực tiếp khám phá. Đa phần các em được tiếp cận với 
công nghệ thông tin hàng ngày, trong mọi hoạt động nên kĩ năng thực hành của 
học sinh khá tốt. 
 Học sinh chăm chú, tích cực học tập trong giờ thực hành. 
 - Phụ huynh học sinh quan tâm đến việc học tập, trao đổi thông tin thường 
xuyên với giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn để nắm bắt được tình hình học 
tập của học sinh. 
 * Khó khăn: 
 Về phía giáo viên: 
 - Thời lượng tiết học/ tuần ít (01 tiết/ tuần/ lớp) do thiếu giáo viên. 
 - Phần mềm MuseScore (Em học nhạc) đã được cài đặt nhưng việc sử dụng 
còn gặp nhiều khó khăn do: 
 + Giáo viên chưa sử dụng thành thạo phần mềm nhạc. 
 + Kiến thức về âm nhạc của giáo viên Tin học còn hạn chế. 
 - Giáo viên tuy đã được đào tạo cơ bản về kiến thức Tin học nhưng khi 
thực hành, máy móc gặp sự cố, trục trặc, giáo viên không xử lý kịp thời dẫn đến 
học sinh thiếu máy. 4 
 Về phía học sinh: 
 - Một số gia đình chưa có khả năng trang bị máy tính do vậy Tin học và 
máy tính vẫn còn là điều xa lạ với các em học sinh, điều đó đã làm ảnh hưởng 
không nhỏ đến việc luyện tập của học sinh ngoài giờ học. Nhiều học sinh ban 
đầu còn lúng túng chưa biết cầm và sử dụng chuột như thế nào? Trong khi đó 
môn Tin học cần có sự thực tế như thực hành, kĩ năng, thao tác sử dụng máy. 
 - Kĩ năng tải và cài đặt phần mềm của học sinh Tiểu học còn hạn chế, nhiều 
gia đình có máy tính nhưng học sinh cũng không có phần mềm để học và thực 
hành thêm. 
 - Tuy đã được trang bị về cơ sở vật chất nhưng do số lượng học sinh đông, 
có nhóm phải ngồi 02 học sinh/ máy, học sinh trong nhóm phải chờ bạn thực 
hành rồi mới đến lượt dẫn đến việc các em chán nản, thụ động và mất trật tự 
trong giờ học. 
 - Một thực tế khác là ý thức học tập của một số học sinh không cao, lười 
hoạt động, không tích cực tự giác hoặc chỉ biết đến máy tính như một công cụ 
giải trí. 
 4.2. Nhược điểm của giải pháp cũ 
 Phương pháp dạy học truyền thống là những cách thức dạy học quen 
thuộc được truyền từ lâu đời và được bảo tồn, duy trì qua nhiều thế hệ. Về cơ 
bản, phương pháp dạy học này lấy hoạt động của người thầy là trung tâm, 
người thầy học hỏi tài liệu, sách giáo khoa, trực tiếp điều khiển kiến thức đến 
học sinh. Học sinh tiếp nhận những thông tin đó bằng việc nghe, nhìn, cùng tư 
duy theo lời giảng của thầy, hiểu, ghi chép và ghi nhớ.Các phương pháp dạy 
học truyền thống như các biện pháp diễn giảng, truyền thụ tri thức một chiều 
có một số hạn chế: người học thụ động tiếp thu kiến thức, giờ dạy dễ đơn điệu, 
buồn tẻ, kiến thức thiên về lý luận, ít chú ý đến kĩ năng thực hành của người 
học, do đó kĩ năng vận dụng vào thực tế bị hạn chế, khi nghe quá lâu người học 
dễ bị chán nản, 
 Với một số biện pháp phát huy tính tích cực của học sinh đã phần nào khắc 
phục được một số hạn chế nêu trên. Giáo viên có vai trò là trọng tài, cố vấn điều 5 
khiển tiến trình giờ dạy, là người hướng dẫn, gợi ý, tổ chức, giúp cho người học 
tự tìm kiếm, khám phá những tri thức mới. Phương pháp này rất chú ý đến đối 
tượng học sinh, coi trọng việc nâng cao quyền năng cho người học, tạo điều kiện 
tối đa phát huy vai trò chủ thể của người học, người học giữ vai trò chủ động 
hơn, không là người tiếp nhận thông tin một cách bị động. Người học hợp tác 
với các bạn cùng học để hiểu và giúp đỡ lẫn nhau trong học tập, khắc sâu những 
kiến thức cần nắm vững đồng thời hình thành và phát triển những kỹ năng học 
tập của mình. 
 5. Sự cần thiết phải áp dụng sáng kiến 
 Trong thời đại hiện nay, thời đại của nền kinh tế tri thức. Trong đó yếu tố 
con người trở thành nguồn nhân lực quan trọng cho sự phát triển của đất nước 
và cùng với cuộc phát triển của công nghệ 4.0 thì phương tiện cho sự phát triển 
đó chính là tri thức công nghệ và công nghệ thông tin đóng vai trò then chốt cho 
sự sáng tạo, mở đường, thúc đẩy sự phát triển các ngành, các lĩnh vực khác. 
 Môn Tin học cũng giống như nhiều môn học khác ở bậc Tiểu học, nó có 
một vị trí đặc biệt không thể thiếu trong thời đại hiện nay. Thông qua môn Tin 
học, học sinh được rèn về kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, về đạo đức và tư duy thực 
hành, từ đó gây hứng thú học tập và say mê nghiên cứu môn học trong những 
năm tiếp theo. Gần đây ở bậc Tiểu học bộ môn Tin học đã được chú trọng hơn, 
chương trình được đổi mới và cập nhật thường xuyên. Sở Giáo dục và Đào tạo 
Bắc Giang nói chung cũng như Phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố nói riêng 
đã có sự đầu tư lớn cả về cơ sở vật chất và nguồn lực để đưa môn Tin học vào 
giảng dạy đạt hiệu quả cao. 
 Giáo dục hiện đại không chỉ đi sâu nghiên cứu cập nhật nội dung kiến thức 
mà còn phải đầu tư tìm ra những phương pháp giảng dạy mới, khoa học và hiệu 
quả hơn. Phương pháp hiện đại đòi hỏi sự kết hợp giữa nhiều yếu tố khác nhau 
đó là: Phương tiện học tập, nội dung, phương pháp giảng dạy của thầy và tính 
tích cực của mỗi học sinh. Mỗi yếu tố đó đều giữ vai trò rất quan trọng, quyết 
định sự thành công trong giảng dạy và kết quả học tập của học sinh. Nâng cao 
chất lượng dạy học là điều mà tôi luôn trăn trở suy nghĩ và tìm mọi cách để 6 
làm sao ngay từ những ngày đầu tiên được học Tin học phải tạo cho các em 
niềm đam mê và yêu thích môn học. 
 Dạy Tin học thường gồm hai phần lý thuyết và thực hành, cả hai phải 
được kết hợp song song với nhau trong quá trình dạy. Vậy làm thế nào để tạo 
được tập trung chú ý của cả lớp vào bài giảng? Làm thế nào trong khoảng thời 
gian từ 35 - 40 phút học sinh trực tiếp quan sát, thảo luận, thực hành, giải quyết 
vấn đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình từ đó nắm được kiến thức, kĩ năng 
mới. Trong các phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học. Nếu rèn 
luyện cho người học có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì 
sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết 
quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội. Đó cũng chính là lý do mà tôi chọn viết 
đề tài “Một số biện pháp phát huy tính tích cực của học sinh trong giờ Tin học 
ở Trường Tiểu học Trần Phú”. 
 6. Mục đích của sáng kiến 
 Máy tính được sử dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực của đời sống, từ học 
tập, sản xuất, kinh doanh đến dịch vụ, giải trí, ... Việc học tập sử dụng máy tính 
đã trở nên thiết yếu trong xã hội hiện nay. Mục tiêu của việc dạy học môn Tin 
học ở bậc Tiểu học là nhằm giúp cho học sinh: Có những hiểu biết cơ bản về 
máy tính; Biết sử dụng máy tính trong học tập, giải trí cũng như trong công việc 
sau này; Giúp các em vận dụng kiến thức, kĩ năng học được để giải quyết các 
vấn đề, tình huống thực tiễn hoặc vận dụng vào các môn học khác. 
 Tính tích cực là một phẩm chất vốn có của con người, bởi vì để tồn tại và 
phát triển con người luôn phải chủ động, tích cực cải biến môi trường tự nhiên, 
cải tạo xã hội. Do đó, hình thành và phát triển tính tích cực là một trong những 
nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục nhằm tạo ra những thế hệ con người nhận thức 
sâu sắc, biết tự giác, chủ động, sáng tạo trong công việc. Nhìn lại việc học tập 
của các em ở trường tôi thấy nhận thức của các em còn nhiều hạn chế, ý thức tự 
học, từ rèn luyện còn ít. Chính vì vậy, sáng kiến này bước đầu đưa ra những 
biện pháp nhằm phát huy tính tích cực của học sinh ở bậc Tiểu học, cụ thể trong 
môn Tin học. 7 
 7. Nội dung 
 7.1. Thuyết minh giải pháp: “Một số biện pháp phát huy tính tích cực 
của học sinh trong giờ Tin học ở Trường Tiểu học Trần Phú” 
 Căn cứ Kế hoạch số 124/KH-UBND ngày 22/11/2017 của UBND TP. Bắc 
Giang về việc thực hiện Đề án “Đẩy mạnh dạy Tin học và ứng dụng CNTT 
trong trường phổ thông giai đoạn 2017-2020, định hướng đến năm 2025”; Kế 
hoạch số 29/KH-GDĐT ngày 14/09/2021 của Phòng Giáo dục và Đào tạo thành 
phố Bắc Giang về việc thực hiện nhiệm vụ CNTT và chuyển đổi số năm học 
2021-2022; Sau đây tôi đưa ra một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy 
và học, phát huy tính tích cực của HS trong môn Tin học. 
 A. Giáo viên có kế hoạch bài dạy, xây dựng ý tưởng, thiết kế bài dạy phù hợp. 
 - Giáo viên lên kế hoạch soạn giảng từng bài cụ thể, tùy thuộc vào khả 
năng tiếp thu kiến thức của từng đối tượng học sinh mà giáo viên vận dụng 
phương pháp hình thức tổ chức dạy học. 
 Ví dụ: Ngay từ bài học đầu tiên trong chương trình Tin học, giáo viên cần 
giúp học sinh xác định, phân biệt các bộ phận của máy tính và chức năng cơ bản 
của các bộ phận đó bằng cách cho học sinh tìm hiểu, quan sát, khám phá, thực 
hành ngay trong giờ học. 
 Các bộ phận của máy tính để bàn: 
 Thân máy Màn hình Bàn phím Chuột máy tính 
 Một số loại máy tính thường gặp: 
 Máy tính để bàn Máy tính xách tay Máy tính bảng 8 
 - Giáo viên thường xuyên bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ qua việc đọc 
tài liệu, sách báo, sáng kiến kinh nghiệm, tìm hiểu thông tin trên Internet, trao 
đổi với đồng nghiệp những vấn đề cần lưu ý, những nội dung khó để tìm ra 
phương án tối ưu nhất phù hợp với mỗi bài học. 
 B. Nắm vững nội dung chương trình mục tiêu của bài học. 
 - Muốn giờ dạy đạt hiệu quả thì trước tiên giáo viên cần nắm vững mục tiêu 
của bài học là gì? Nắm chắc chuẩn kiến thức, kĩ năng và thái độ đối với từng 
bài. Không dạy vượt quá mức độ cần đạt ở mỗi bài học, mỗi khối lớp. 
 - Việc phát hiện tính tích cực học tập của học sinh không phải là vấn đề 
mới, nó đã được nghiên cứu ở nhiều bộ môn khác nhau, tuy nhiên do mỗi môn 
học đều có những đặc thù riêng nên cũng cần những phương pháp riêng. Với 
môn Tin học, thì phát huy tính tích cực của học sinh trong giờ học là bồi dưỡng 
cho học sinh phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào 
thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học 
sinh nhất là trong giờ thực hành. 
 - Đối với bài có nội dung kiến thức mới giáo viên cần nhấn mạnh, khắc sâu 
kiến thức, kĩ năng thái độ của học sinh ở từng năng lực, phẩm chất để học sinh 
thấy rõ mục tiêu cần đạt. 
 Ví dụ: Bài “Tập gõ bàn phím” (Lớp 3) thì việc đặt tay lên bàn phím, gõ 
đúng là quan trọng. Khi học bài này giáo viên không yêu cầu học sinh phải gõ 
nhanh mà ở đây cần yêu cầu học sinh phải đặt tay đúng và gõ đúng cách. 
 Cách đặt tay lên bàn phím máy tính. 9 
 - Trong các tiết học giáo viên nên tận dụng tối đa thời gian thực hành cho 
học sinh, thời gian thực hành càng nhiều thì càng giúp học sinh củng cố được 
chắc phần lý thuyết. Giáo viên thường xuyên sử dụng các thiết bị, phần mềm hỗ 
trợ giúp học sinh hiểu bài và nắm bắt kiến thức nhanh hơn. 
 * Một số lưu ý khi tổ chức kiểm tra, đánh giá: 
 - Môn Tin học thuận lợi cho việc áp dụng phương pháp trắc nghiệm và tự 
luận nên giáo viên có thể tăng cường sử dụng phương pháp này trong kiểm tra, 
đánh giá kết quả học tập của học sinh. 
 - Kiểm tra cuối kì thực hiện ở cả hai nội dung lý thuyết và thực hành. 
 Học sinh lớp 3 Trường Tiểu học Trần Phú làm bài kiểm tra thực hành 
 cuối học kì 1 năm học 2021-2022. 
 C. Vận dụng linh hoạt một số biện pháp phát huy tính tích cực của học sinh 
trong giờ Tin học. 
 a. Phương pháp vấn đáp 
 Giáo viên dùng một hệ thống câu hỏi được sắp xếp hợp lý để hướng học 
sinh từng bước phát hiện ra bản chất của sự vật, tính quy luật của hiện tượng 
đang tìm hiểu, kích thích sự ham muốn hiểu biết như: 
 Điều gì sẽ xảy ra nếu .? 10 
 Tại sao .. quan trọng? 
 Em nghĩ nguyên nhân .? 
 .. và .. giống nhau như thế nào? 
 Em sẽ sử dụng . để như thế nào? 
 Giáo viên tổ chức trao đổi ý kiến (kể cả tranh luận) giữa thầy/cô với cả lớp, 
giữa trò với trò nhằm giải quyết một vấn đề xác định. Trong vấn đáp, giáo viên 
giống như người tổ chức, tìm tòi còn học sinh giống như người tự lực phát hiện 
kiến thức mới. Vì vậy, khi kết thúc cuộc đàm thoại, học sinh có được niềm vui 
trong khám phá, thêm một bước về trình độ tư duy đồng thời phương pháp 
khuyến khích học sinh: 
 Suy nghĩ sâu sắc hơn vê những gì đang học. 
 Phát triển các kĩ năng đặt câu hỏi, lập luận và diễn dịch. 
 Truyền đạt ý tưởng theo nhiều cách khác nhau. 
 Diễn đạt bản thân rõ ràng. 
 Biện minh và tranh luận. 
 Làm rõ ý tưởng của riêng mình. 
 Liên kết giữa bài học với những gì đã học và kinh nghiệm trước đó. 
 Ví dụ 1: Dạy bài “ Tẩy, xóa chi tiết tranh vẽ” (Lớp 3), ngoài việc nắm được 
các bước tẩy, xóa chi tiết tranh vẽ thì giáo viên cần phân tích kĩ hơn việc sử 
dụng công cụ khác công cụ như thế nào? Để từ đó học sinh trao đổi ý 
kiến khi nào sử dụng công cụ , khi nào sử dụng công cụ ? Dùng công cụ 
nào nhanh chóng và tiện lợi hơn? 
 Ví dụ 2: Dạy nội dung chèn thêm một ô nhịp trong bài “Chèn ô nhịp và 
thay đổi thông tin về bản nhạc” (Lớp 5), khi yêu cầu học sinh so sánh sự khác 
nhau giữa chèn ô nhịp và thêm ô nhịp thì giáo viên có thể đưa ra một số các câu 
hỏi như: Cách chèn thêm một ô nhịp? Cách thêm ô nhịp? Vị trí ô nhịp được 
chèn và được thêm? Qua hệ thống câu hỏi nêu trên học sinh sẽ tìm hiểu được 
các bước chèn thêm một ô nhịp đồng thời củng cố được kiến thức thêm ô nhịp 
của bài học trước đó, so sánh được sự khác nhau giữa chèn ô nhịp và thêm ô 
nhịp trong phần mềm em học nhạc MuseScore. 11 
 Trao đổi ý kiến giữa giáo viên với học sinh trong lớp. 
 b. Phương pháp hoạt động nhóm 
 Hoạt động nhóm là phương pháp đòi hỏi người học phải phát huy tính tích 
cực của bản thân. Hoạt động nhóm không chỉ để cùng nhau giải quyết vấn đề mà 
qua đó còn giáo dục học sinh năng lực hợp tác, tính chăm học, đoàn kết và kỉ 
luật, hoạt động nhóm có thể được sử dụng ở các giai đoạn khác nhau của bài 
học. Để hoạt động nhóm đạt hiệu quả cao, giáo viên cần phải: 
 - Một là: Lựa chọn đúng nội dung cần hoạt động. Không phải vấn đề nào 
cũng đưa ra hoạt động nhóm. Chỉ áp dụng với những vấn đề đòi hỏi phát huy trí 
tuệ của tập thể. Giáo viên phải nắm được khả năng của học sinh để lựa chọn nội 
dung thích hợp. Đặc biệt giáo viên không nên cho học sinh hoạt động nhóm 
những nội dung quá khó. 
 - Hai là: Phân nhóm khoa học. Tùy từng điều kiện, từng nội dung để phân 
công lượng học sinh trong nhóm. Lưu ý khả năng nhận thức của học sinh trong 
nhóm phải có sự đồng đều. Với nhóm học sinh yếu giáo viên giao cho thảo luận 
vấn đề đơn giản để các em đều có thể làm được qua đó giúp các em ham thích 
học tập hơn, với những nhóm khá giỏi giáo viên giao cho vấn đề khó hơn để học 
sinh hưng phấn học hơn. 12 
 Học sinh hoạt động nhóm. 
 - Ba là: Hướng dẫn thật kĩ nội dung và quy định thời gian thảo luận cụ thể. 
Khi thảo luận nhóm nhiều giáo viên không chú ý nhiều đến việc hướng dẫn 
trước và khi học sinh đã gom nhóm để bắt đầu thảo luận thì các em sẽ gặp phải 
những khó khăn, khúc mắc. Rõ ràng lúc này, dù giáo viên có hướng dẫn và giải 
thích nhưng cũng tỏ ra kém hiệu quả bởi lúc này các em rất ồn, thiếu tập trung. 
Từ đó dẫn đến việc thảo luận không tốt. Ngoài ra, giáo viên phải theo dõi các 
nhóm trong quá trình thảo luận, đi tới từng nhóm xem tiến trình thảo luận, động 
viện khích lệ các em kịp thời, hỗ trợ các em (nếu cần). 
 Giáo viên tới từng nhóm xem tiến trình thảo luận của các nhóm và hỗ trợ (nếu cần) . 13 
 - Bốn là: Báo cáo kết quả. Nhiều giáo viên cho học sinh thảo luận, nhưng 
lúc báo cáo chỉ mời một, hai nhóm báo cáo. Giáo viên nên tạo cơ hội cho tất cả 
các nhóm báo cáo kết quả hoạt động của nhóm mình. Khi mời đại diện nhóm, 
giáo viên nên mời một thành viên bất kỳ phát biểu trước, sau đó cho phép thành 
viên còn lại góp ý. Làm như thế sẽ hạn chế việc chỉ một vài thành viên thảo luận. 
 - Năm là: Chia sẻ. Chia sẽ những gì nhóm mình thảo luận với các bạn 
nhóm khác để làm phong phú thêm cho nhóm mình và nhóm bạn đồng thời phát 
huy được tính tích cực của học sinh trong giờ học. 
 Học sinh chia sẻ bài trước lớp, báo cáo kết quả của nhóm mình. 14 
 Ví dụ: Ở lớp 3 khi dậy bài “Chèn hình, tranh ảnh vào trang trình chiếu” 
giáo viên cho học sinh tự thảo luận theo nhóm máy và đưa ra các bước thực hiện 
vì bài này có các bước chèn tương tự bài “Chèn hình, tranh ảnh vào văn bản” đã 
học. Qua đó rèn được năng lực hợp tác, tính tự học và chủ động. 
 - Trong giờ thực hành giáo viên nên tạo sự tranh đua bằng cách giao nhiệm 
vụ cho các nhóm, sau đó các nhóm báo cáo, chia sẻ kết quả của nhau để tạo 
được sự hào hứng, nỗ lực và sáng tạo trong quá trình thực hành. 
 c. Phương pháp vận dụng trò chơi học tập 
 Trò chơi học tập là một hoạt động mà học sinh yêu thích nhất. Tiết học có 
trò chơi sẽ tạo được môi trường, không khí học tập vui vẻ, tinh thần đoàn kết, hấp 
dẫn lôi cuốn tới mọi đối tượng. Học tập của học sinh không chỉ là quá trình tiếp 
thu kiến thức, nó liên quan đến thực hành, hợp tác, làm việc tập thể theo tổ nhóm. 
Khi trò chơi được sử dụng hợp lý sẽ giúp cho học sinh lĩnh hội tri thức trong tất 
cả các khâu, làm cho những kiến thức học sinh tự chiếm lĩnh ngày càng sâu sắc 
hơn. Đặc biệt thông qua trò chơi sẽ thúc đẩy một cách tự nhiên khả năng tự tìm 
tòi, nghiên cứu, rèn luyện tri thức cũng như tính năng động và tính tích cực tham 
gia học tập của học sinh. 
 Đặc điểm tâm lý của lứa tuổi học sinh Tiểu học là các em vừa được học 
vừa được chơi. Vì vậy, muốn học sinh Tiểu học học tốt thì mỗi môn học giáo 
viên không phải chỉ truyền đạt, giảng giải theo các tài liệu trong sách giáo khoa 
hay học một cách máy móc rập khuôn làm cho học sinh học một cách thụ động, 
nếu chỉ học như vậy việc học tập của học sinh diễn ra đơn điệu, tẻ nhạt, kết quả 
học tập không cao. Người giáo viên có thể hướng học sinh tham gia vào hoạt 
động học tập trong tiết học qua phần trò chơi, khi giáo viên đưa một trò chơi nào 
đó vào bài học cũng cần lưu ý một số vấn đề sau: 
 Học sinh hứng thú với trò chơi giáo viên tạo ra trên Quizizz.com 15 
 - Giáo viên phải có kế hoạch chuẩn bị chu đáo, tỉ mỉ đảm bảo các yêu cầu 
như: trò chơi mang ý nghĩa giáo dục, trò chơi phải nhằm mục đích củng cố, khắc 
sâu nội dung bài học, trò chơi phải phù hợp với tâm lý điều kiện cơ sở vật chất 
và từng bài học. 
 - Cấu trúc của trò chơi học tập: phải có tên trò chơi, mục đích, đồ dùng đồ 
chơi, nêu luật chơi, số người tham gia chơi, ... 
 Một số trò chơi giáo viên có thể đưa vào bài học: trò chơi truyền điện; trò 
chơi tiếp sức; trò chơi đóng vai (chủ đề), trò chơi đóng kịch (theo kịch bản), trò 
chơi truyền tin, trò chơi ai thông minh hơn, 
 * Trò chơi truyền điện: 
 Mục đích: Luyện tập củng cố kĩ năng ghi nhớ, phản xạ của học sinh.Trò 
chơi này không cầu kỳ nhưng vẫn gây được không khi vui vẻ, sôi nổi, hào hứng 
trong giờ học. Trò chơi đã áp dụng được với nhiều bài học. 
 Ví dụ 1: Bài “Tập gõ bàn phím” (Lớp 3 - Chủ đề 1). 
 Cách chơi: Học sinh ngồi tại chỗ giáo viên bắt đầu từ một học sinh xung 
phong. Giáo viên đưa ra câu hỏi “Ngón trỏ tay trái gõ phím gì?” Lần lượt học 
sinh trả lời các phím do ngón trỏ tay trái gõ cho đến hết các phím do ngón trỏ 
tay trái gõ, bạn nào không trả lời được thì trò chơi kết thúc. Tương tự với các 
ngón tay khác trên hai bàn tay. 
 Ví dụ 2: Bài “Các lệnh của Logo” (Lớp 4 - Chủ đề 5). 
 Cách chơi: Học sinh thứ nhất đứng dậy nêu tên lệnh, học sinh thứ hai trả lời 
hành động của Rùa, học sinh thứ ba thực hiện lệnh. Trò chơi cứ thế diễn ra tới 
khi các học sinh thực hiện vẽ xong hình thì trò chơi kết thúc. 
 Sản phẩm của học sinh sau khi thực hiện trò chơi. 16 
 * Trò chơi tiếp sức 
 Mục đích: Giúp học sinh tích cực trong hoạt động lĩnh hội kiến thức hình 
thành củng cố kĩ năng, được vận động nhanh nhẹn, tạo không khí vui vẻ. 
 Ví dụ: Bài “Gõ các dấu sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng”. 
 Cách chơi: Chia lớp thành hai đội, mỗi đội chọn ra 5 học sinh. Giáo viên tổ 
chức cho học sinh chơi để điền vào chỗ trống trong bảng: 
 Dấu cần có Cách gõ 
 Dấu sắc 
 f 
 Dấu hỏi 
 j 
 Dấu ngã 
 * Trò chơi đóng vai 
 Mục đích: Gây chú ý cho học sinh, tạo điều kiện làm nảy sinh óc sáng tạo, 
khích lệ sự thay đổi thái độ của học sinh theo chuẩn mực hành vi đạo đức. 
 Ví dụ: Phần khởi động bài “Thủ tục trong Logo” (Lớp 5).HS sẽ đóng làm 
nhân vật Rùa để di chuyển tạo thành hình vuông theo lệnh của người ra lệnh. 
 Phần trò chơi đóng vai nhân vật Rùa trong bài “Thủ tục trong Logo”. 
 17 
* Sử dụng video - clip trong tiết học. 
 Việc sử dụng video - clip có tác dụng: Tạo điều kiện để đổi mới phương 
pháp dạy học, loại trừ khuynh hướng dạy chay làm cho giờ học khô khan, mang 
tính chất lý thuyết, áp đặt đối với học sinh; Làm tăng tính hấp dẫn đối với nội 
dung học tập, gây hứng thú học tập ở học sinh; Làm cho việc học trở nên dễ 
dàng hơn, thuận lợi hơn, các hình ảnh là nguồn tư liệu để học sinh khai thác nội 
dung học tập một cách tự giác, tích cực. 
 Video - Clip phải đảm bảo nguyên tắc sau: 
 + Video - Clip phải thật sự phù hợp, đúng trọng tâm. 
 + Không nên quá dài vì tiết học có giới hạn về thời gian. 
 + Chất lượng hình ảnh và âm thanh phải đảm bảo rõ, nét. 
 + Nguồn cung cấp video - clip chính thống. 
 + Có video dự phòng. 
 Sử dụng video trong quá trình giảng dạy môn Tin học có tác dụng và hiệu 
quả rất lớn, những tiết học chỉ với phấn, bảng, máy chiếu trước đây giờ trở nên 
sinh động hơn rất nhiều, học sinh sôi nổi, hào hứng hơn, giáo viên cũng tự tin 
hơn khi lên lớp. 
 - Ví dụ 1: Trong bài “Máy tính trong đời sống” giáo viên có thể quay 
đoạn video chính các cô giáo dạy trong trường đang soạn giáo án điện tử, ra đề, 
làm báo cáo, ; máy tính sử dụng trong cửa hàng, bệnh viện, trong phòng 
nghiên cứu, nhà máy, cho học sinh xem minh họa. 
 - Ví dụ 2: Ở chủ đề “Soạn thảo văn bản” giáo viên cho học sinh xem đoạn 
video so sánh việc gõ đúng bằng mười ngón và cách ngõ không đúng (mổ cò) để 
học sinh tự so sánh thấy được tác dụng của việc gõ mười ngón. Nếu kiên trì luyện 
gõ học sinh sẽ gõ nhanh, chính xác tiết kiệm thời gian, không phải nhìn vào bàn 
phím chỉ cần đặt tay đúng là học sinh có thể gõ được, 
 - Ví dụ 3: Ở chủ đề “Em tập vẽ” giáo viên có thể sưu tầm một số đoạn 
video “họa sĩ đốm” có hướng dẫn các em nhỏ vẽ tranh để từ đó học sinh có ý 
tưởng hình thành vẽ trên máy và làm cho bài vẽ có tính sáng tạo hơn. 18 
 Học sinh lớp 4 sử dụng phần mềm vẽ Paint để thiết kế “Bữa ăn sáng”. 
 D. Khen thưởng, nêu gương 
 Việc khen thưởng, nêu gương học sinh trong từng hoạt động và cuối giờ học 
là rất cần thiết, một lời động viên, một lời khen đúng lúc có tác dụng kích thích sự 
say mê, phấn đấu, thi đua học tập của học sinh. Ngoài lời khen, đôi lúc cũng cần 
có những phần thưởng vật chất nhỏ như: quyển vở, cái bút, ... cho cá nhân học 
sinh, theo nhóm, theo tổ hoặc thưởng chung cho cả lớp. Thậm chí giáo viên có thể 
động viên học sinh nếu học tập tốt hoàn thành bài trên lớp nhanh thưởng cho học 
sinh 3 - 4 phút cuối giờ thư giãn chơi một số trò chơi đã học như gấu chơi Piano, 
Chơi cờ vua cùng phần mềm Real Chess3D, 
 19 
 Giáo viên khen thưởng, động viên, khích lệ học sinh kịp thời. 
 E. Một số lưu ý trong giờ thực hành 
 Tiết thực hành chiếm 60% đến 70% thời lượng môn học. So với tiết dạy lý 
thuyết, thực hành được học sinh yêu thích hơn, đặc thù riêng của môn học Tin 
học là thực hành, thông qua thực hành làm sáng tỏ kiến thức lý thuyết các em đã 
tiếp thu được, học sinh phải được trực tiếp làm thì mới nhớ và nắm bài tốt hơn. 
Tuy nhiên, để thực hành đạt hiệu quả cao thì người giáo viên phải có nhiều kinh 
nghiệm và phải có sự chuẩn bị chu đáo cho từng tiết dạy. Cụ thể cần lưu ý 
những vấn đề sau: 
 - Một là: Lựa chọn nội dung đối với tiết luyện tập, ôn tập phù hợp để học 
sinh ôn lại được những kiến thức đã học. Phải cài sẵn phần mềm trên máy tránh 
trường hợp đến bài mới cài phần mềm làm mất thời gian và ảnh hưởng đến việc 
học tập của học sinh. 
 - Hai là: Bố trí học sinh ngồi học hợp lí. Nên bố trí học sinh khá giỏi với 
những học sinh yếu trung bình ngồi chung một máy và yêu cầu các em luân 
phiên nhau thực hành. Em thực hành nhanh xong rồi thì dành được nhiều thời 
gian cho bạn chậm hơn. Tránh để học sinh lẻ loi một mình không có máy thực 
hành. Trong giờ thường xuyên quan sát và yêu cầu các em đổi cho bạn bên cạnh 
thực hành. 

Tài liệu đính kèm:

  • pdfskkn_mot_so_bien_phap_phat_huy_tinh_tich_cuc_cua_hoc_sinh_tr.pdf