SKKN Ứng dụng công nghệ thông tin giúp học sinh lớp 4, trường Tiểu học Nham Biền số 1 hứng thú học tập môn Tin học theo chương trình GDPT 2018 (GV: Nguyễn Thị Ngân)

doc 18 trang Di Di 19/03/2026 80
Bạn đang xem tài liệu "SKKN Ứng dụng công nghệ thông tin giúp học sinh lớp 4, trường Tiểu học Nham Biền số 1 hứng thú học tập môn Tin học theo chương trình GDPT 2018 (GV: Nguyễn Thị Ngân)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
 Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
 THUYẾT MINH MÔ TẢ GIẢI PHÁP VÀ KẾT 
 QUẢ THỰC HIỆN SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến: “ Ứng dụng công nghệ thông tin giúp học sinh lớp 4, trường Tiểu học 
Nham Biền số 1 hứng thú học tập môn Tin học theo chương trình GDPT 2018.”
2. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: Bắt đầu từ tháng 
9/2023 đến tháng 5/2024 
3. Các thông tin cần bảo mật (nếu có): Không
4. Mô tả các giải pháp cũ thường làm
 Trong bối cảnh công nghệ phát triển mạnh mẽ, việc ứng dụng công nghệ 
thông tin (CNTT) vào dạy học là xu hướng tất yếu nhằm nâng cao chất lượng giáo 
dục. Đối với môn Tin học lớp 4 theo chương trình giáo dục phổ thông (CTGDPT) 
2018, học sinh bắt đầu được tiếp cận những kiến thức cơ bản về máy tính, phần 
mềm, lập trình đơn giản và kỹ năng sử dụng công nghệ số.
 Tuy nhiên, thực tế tại Trường tiểu học Nham Biền số 1 cho thấy, nhiều học 
sinh lớp 4 chưa hứng thú với môn Tin học. Các em học tập còn mang tính thụ 
động, ghi nhớ máy móc, thiếu sáng tạo và ít được tương tác. Học sinh lớp 4 đang ở 
độ tuổi tiểu học, còn hiếu động, khả năng tập trung còn hạn chế. Nếu phương pháp 
dạy học chưa phù hợp hoặc nội dung khô khan, lý thuyết nặng sẽ dễ làm giảm sự 
hứng thú, ảnh hưởng đến kết quả học tập. Thực tế qua những năm tôi trực tiếp 
giảng dạy bộ môn Tin học tại trường Tiểu học tôi nhận thấy những hạn chế nêu 
trên là do những nguyên nhân sau đây:
 *Đối với học sinh: 
 + Học sinh ít được làm việc nhóm, trao đổi kiến thức với bạn.
 + Chưa thật sự yêu thích môn Tin học, nhiều em học đối phó.
 + Năng lực, nhận thức của các em trong lớp không đồng đều, còn nhiều 
hạn chế nên khó khăn trong việc tiếp cận với cùng một nội dung chương trình 
học tập mới hiện nay. + Một số học sinh còn mải chơi, chưa có hứng thú học tập, thái độ học tập 
chưa đúng đắn. Ý thức tự giác trong học tập còn chưa cao, không tập trung vào 
bài giảng của thầy cô, chưa chú ý nhiều trong giờ học.
 + Một số học sinh khi thực hành còn nhút nhát, không tự tin làm bài, chưa 
có tinh thần học hỏi, chưa chủ động, tích cực trong giờ học, chưa hăng hái phát 
biểu xây dựng bài.
 *Đối với giáo viên: 
 + Phương pháp giảng dạy thiên về lý thuyết, giáo viên thuyết giảng là chính, 
học sinh thụ động tiếp nhận kiến thức.
 + Bài giảng thiếu tính tương tác, ít gắn với thực tiễn cuộc sống của học 
sinh lớp 4.
 + Các hoạt động học tập ít đa dạng, chủ yếu là thực hành theo hướng dẫn, 
thiếu các hoạt động khám phá, trải nghiệm.
 + Phương pháp đánh giá đơn điệu, chủ yếu chú trọng kết quả cuối cùng, ít 
quan tâm đến quá trình và sự tiến bộ của học sinh.
 + Việc đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá còn chậm.
 + Phụ huynh chưa được hướng dẫn cách hỗ trợ con em học Tin học tại nhà.
5. Sự cần thiết phải áp dụng giải pháp sáng kiến
 Ngày nay với sự phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ nói chung và 
ngành Tin học nói riêng, với những tính năng ưu việt thì Tin học là một phần 
không thể thiếu được trong cuộc sống hiện nay. Đảng và nhà nước đang xây dựng 
và phát triển xã hội đã xác định được tầm quan trọng của Tin học và công nghệ 
thông tin thời đại 4.0. Đất nước ta đang trên đà phát triển, đòi hỏi mọi người 
không ngừng nâng cao về tri thức để đáp ứng với sự thay đổi và phát triển của xã 
hội.
 Xác định rõ ý nghĩa và tầm quan trọng của Tin học thì Bộ giáo dục và đào 
tạo đã triển khai và áp dụng chương trình giáo dục phổ thông mới 2018, môn Tin 
học là môn bắt buộc trong trường Tiểu học. Mục tiêu của chương trình Tin học 
trong chương trình giáo dục phổ thông mới 2018 ở cấp tiểu học đó là: Bước đầu hình thành cho học sinh tư duy giải quyết vấn đề với sự trợ giúp của máy tính: 
Hình thành nhu cầu thu thập, sử dụng thông tin, ý tưởng điều khiển máy tính thông 
qua ngôn ngữ lập trình trực quan. Giúp học sinh sử dụng phần mềm tạo ra được 
những sản phẩm, ý tưởng riêng của mình.
 Là năm thứ nhất tôi dạy học sinh lớp 4 theo chương trình GDPT 2018, xuất 
phát từ yêu cầu của việc đổi phương pháp là phát huy tính tích cực, chủ động, sáng 
tạo của học sinh, chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận 
năng lực của người học. Tuy nhiên với chương trình GDPT 2018 môn Tin học đòi 
hỏi sự linh hoạt cao của giáo viên, sự nhạy bén, tư duy có sự quan sát và sáng tạo 
của học sinh để giải quyết vấn đề, vì vậy để tạo cho học sinh hứng thú học tập là 
một điều hết sức cần thiết, bản thân tôi nhận thấy việc tạo hứng thú cho học sinh 
học tập môn Tin học là một trong những giải pháp hết sức quan trọng góp phần 
phát huy năng lực học sinh, nâng cao chất lượng dạy.
 Vì vậy tôi mạnh dạn chia sẻ một số kinh nghiệm cũng như suy nghĩ của 
mình thông qua báo cáo “ Ứng dụng công nghệ thông tin giúp học sinh lớp 4, 
trường Tiểu học Nham Biền số 1 hứng thú học tập môn Tin học theo chương 
trình GDPT 2018” Với báo cáo này sẽ góp thêm những biện pháp thiết thực nhằm 
giúp học sinh tiểu học hứng thú và học tốt bộ môn Tin học tiểu học đặc biệt là các 
em học sinh lớp 4.
6. Mục đích của giải pháp sáng kiến 
 Qua quá trình nghiên cứu và thực hiện biện pháp, tôi thấy biện pháp này 
mang mục đích và ý nghĩa rất to lớn trong việc thúc đẩy sự hứng thú học tập của 
học sinh trong môn môn tin học. Khi hoàn thành biện pháp này tôi thấy lợi ích 
mang lại gồm:
 + Tạo môi trường học tập Tin học sinh động, hấp dẫn, khơi dậy niềm đam 
mê, hứng thú của học sinh lớp 4 đối với môn Tin học.
 + Giúp học sinh lớp 4 tiếp thu kiến thức, kỹ năng tin học cơ bản một cách tự 
nhiên, hiệu quả thông qua các hoạt động thực hành, trải nghiệm phù hợp lứa tuổi.
 + Phát triển tư duy logic, kỹ năng giải quyết vấn đề và khả năng sáng tạo của 
học sinh. + Nâng cao chất lượng dạy và học môn Tin học lớp 4 theo định hướng 
chương trình giáo dục phổ thông 2018.
 + Tạo mối liên kết giữa gia đình và nhà trường trong việc hỗ trợ học sinh 
học tập môn Tin học.
 + Góp phần thực hiện thành công Chương trình môn Tin học theo CTGDPT 
2018 ở tiểu học.
7. Nội dung:
 7.1. Thuyết minh giải pháp mới hoặc cải tiến
 Thực tế cho thấy, công tác hoạt động dạy học theo định hướng phát triển 
năng lực tại trường tôi đang công tác đã được triển khai thực hiện. Nhìn chung, các 
giáo viên trong nhà trường đã tiếp cận được phương pháp dạy học mới này. Tuy 
nhiên, trong quá trình thực vẫn còn một số hạn chế, tồn tại như sau:
 Học sinh thiếu sự tập trung, không hứng thú, nhiều em sợ khi đến tiết Tin học.
 Giáo viên còn tạo áp lực cho học sinh do chỉ tiêu chất lượng nhà trường .
 Thời điểm tuần thứ 5, năm học 2023-2024 tôi cho học sinh làm phiếu khảo 
sát với nội dung như sau:
 Kết quả tôi thu và lập biểu đồ như sau: Như vậy, nhìn vào biểu đồ trên cũng như trong quá trình giảng dạy ở trên 
lớp tôi nhận thấy số lượng học sinh hứng thú học tập môn Tin học còn thấp. Tôi 
xác định một số nguyên nhân dưới đây:
 Giáo viên chưa tạo được không khí thoải mái cho học sinh, học sinh đôi khi 
còn áp lực, lo sợ vì không nhớ kiến thức cũ, chưa nắm được các kỹ năng sử dụng 
máy tính.
 Nội dung bài học khô khan, chưa có sự gắn kết với thực tế, không gần gũi 
với học sinh.
 Thiếu các hoạt động thực hành, việc học sinh được tương tác trên máy tính 
còn hạn chế.
 Các hoạt động dạy học chưa phong phú dẫn đến các em còn cảm thấy nhàm chán.
 Trong bối cảnh chương trình Giáo dục phổ thông 2018 đặt trọng tâm vào 
việc phát triển phẩm chất và năng lực học sinh, đặc biệt là năng lực công nghệ 
thông tin và truyền thông (ICT), việc giảng dạy môn Tin học ở tiểu học, nhất là ở 
lớp 4, không thể chỉ dừng lại ở việc truyền đạt kiến thức đơn thuần. Trẻ em ngày nay sinh ra và lớn lên trong môi trường số, do đó, việc ứng dụng công nghệ thông 
tin (CNTT) vào chính việc dạy học Tin học không chỉ là cần thiết mà còn mang 
tính tất yếu. Vì vậy, làm thế nào để học sinh có thể hứng thú học tập tốt hơn luôn 
thôi thúc tôi tìm ra biện pháp tốt nhất để giảng dạy cho các em. Bắt đầu từ tuần thứ 
6 năm học 2023- 2024 tôi đã mạnh dạn “Ứng dụng công nghệ thông tin giúp học 
sinh lớp 4, trường Tiểu học Nham Biền số 1 hứng thú học tập môn Tin học theo 
CTGDPT 2018” và đã thu được những kết quả khả quan. 
7.2. Các biện pháp
 Để ứng dụng công nghệ thông tin giúp học sinh lớp 4 có hứng thú học tập 
môn Tin học theo CTGDPT 2018 tôi đã áp dụng một số biện pháp sau:
 Biện pháp 1: Tạo tâm lí thoải mái, vui tươi cho học sinh khi bước vào giờ học.
 1.1. Nội dung biện pháp
 Trong mỗi giờ học tôi luôn thiết kế những hoạt động phù hợp với đối tượng 
học sinh, nhằm tạo môi trường học tập cởi mở, thân thiện giúp học sinh gạt bỏ 
những e ngại để tiếp thu kiến thức một cách chủ động nhất. Để tạo hứng thú học 
tập đầu giờ cho học sinh tôi luôn thay đổi không khí lớp học, để giờ học luôn sôi 
động và mỗi tiết học đều để lại những kỉ niệm đáng nhớ với học sinh.
 Chính vì vậy mà ngay từ khi tiếp xúc với các em tôi đã tạo cho các em tâm 
lí thoải mái, vui vẻ, thân thiện trong các hoạt động dạy và học. Làm sao để có thể 
cho học sinh thấy được “trường là ngôi nhà thứ hai”. 
 1.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp
 Để tạo không khí thoải mái, vui tươi cho học sinh trước khi bắt đầu tiết học, 
tôi thường thực hiện các hoạt động sau:
 - Nghiên cứu nội dung bài dạy để tìm ra hình thức khởi động phù hợp.
 Ví dụ: Đối với các tiết hình thành bài mới, tôi thường sử dụng trò chơi để 
tạo các câu hỏi liên quan và gởi mở đến bài học. ( ví dụ: Ô cửa bí mật ) - Thay đổi linh hoạt các hình thức khởi động để các em không cảm thấy 
nhàm chán. ( Ví dụ: Chơi trò chơi, bài nhảy khởi động )
 Lựa chọn học sinh luân phiên làm quản trò để tổ chức cho các bạn tham gia 
hoạt động. - Tổ chức trò chơi theo dự kiến.
 - Quan sát, nhận định tâm thế của học sinh trước khi vào tiết học.
 1.3. Kết quả áp dụng biện pháp
 Khi được tham gia các hoạt động trò chơi, khởi động tôi nhận thấy:
 + Lớp học trở nên thoải mái, làm giảm khoảng cách giữa cô và trò, giữa trò với trò.
 + Học sinh vui tươi, tích cực, chủ động. 
 + Thu hút sự chú ý ngay từ đầu giờ học, không bị mất tập trung, xao nhãng. 
 + Khơi mạch nguồn cảm hứng cho học sinh, kích thích khả năng chinh phục 
tri thức của các em.
 + Giúp các em cảm thấy yêu trường, yêu lớp, yêu bạn bè thầy cô, tự tin thể 
hiện bản thân trước lớp.
 Biện pháp 2: Ứng dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo ( AI) để tạo các tình 
huống bài giảng.
 2.1. Nội dung biện pháp
 Trong bối cảnh của cuộc cách mạng số hóa, việc ứng dụng công nghệ trí tuệ 
nhân tạo (AI) trong việc thiết kế bài giảng tại các trường phổ thông đang trở thành 
xu hướng tất yếu hiện nay. Trong thời đại công nghệ ngày càng phát triển, công 
nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) đã trở thành một công cụ hữu hiệu giúp tạo ra các video 
hoạt hình một cách dễ dàng và nhanh chóng hơn, từ việc thiết kế nhân vật và 
phông nền đến hoạt cảnh, tạo giọng nói, chỉnh sửa và kết hợp các cảnh, (AI) mang 
đến nhiều tiện ích hơn, giáo viên dễ dàng biên soạn và tùy chỉnh nội dung bài giảng cho phù hợp với từng đối tượng học sinh. Điều này không chỉ giúp tăng 
cường sự tương tác giữa giáo viên và học sinh mà còn tạo hứng thú cho học sinh.
 2.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp
 - Lựa chọn nội dụng bài học có thể tạo tình huống bằng ứng dụng công nghệ 
trí tuệ nhân tạo AI.
 - Tích hợp các ứng dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo AI để tạo hình ảnh hoặc 
video minh họa thật sinh động nhằm tăng cường tính tương tác và hứng thú học tập 
của học sinh.
 * Ví dụ: Bài “Tìm kiếm thông tin trên Internet” tôi thực hiện như sau:
 + Tạo tình huống dẫn dắt để viết câu chuyện hoặc kịch bản phù hợp với bài 
học ( Ví dụ: ChatGPT, Genmini ) 
 + Tạo những nhân vật hoạt hình nhờ ứng dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo AI 
( ví dụ: Adobe, Canva..)
 + Công đoạn tạo giọng nói cũng được đơn giản hóa khi công nghệ trí tuệ 
nhân tạo AI có thể tổng hợp từ văn bản sang âm thanh và thậm chí điều khiển 
nhân vật đồng bộ với lời thoại đó ( ví dụ: Capcut, vbee, )
 + Kết nối các phần video riêng lẻ thành một tác phẩm hoàn chỉnh (ví dụ: 
Canva .) 2.3. Kết quả áp dụng biện pháp
 Sau khi đưa các video tình huống nhờ công nghệ trí tuệ nhân tạo AI, tôi thấy:
 + Học sinh chăm chú theo dõi tình huống bài giảng mà video cung cấp.
 + Ghi nhớ được nhiệm vụ giáo viên đưa ra thông qua tình huống.
 + Học sinh thích thú, hào hứng làm cho tiết học trở nên vui tươi, gần gũi và 
dễ hiểu, các em học sinh thì học tập một cách sôi nổi, chủ động, tích cực và hoàn 
thành tốt mục tiêu bài học.
 Biện pháp 3: Tổ chức các hoạt động thực hành đa dạng phong phú.
 3.1. Nội dung biện pháp
 Đặc trưng của môn Tin là học lý thuyết phải đi đôi với thực hành. Qua trực tiếp 
giảng dạy trên lớp, tôi nhận thấy học sinh Tiểu học còn yếu về kĩ năng thực hành. Một số 
học sinh ngại thực hành chỉ quan sát các bạn làm nên chất lượng còn thấp. 
 3.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp
 Để tổ chức các hoạt động thực hành đa dạng phong phú tôi tiến hành như sau:
 - Lựa chọn nội dung các bài học có thể tổ chức thực hành.
 Ví dụ các hình thức tôi thường áp dung:
 + Hoạt động thực hành theo nhóm đôi. + Giao các bài tập mở để học sinh tự tìm hiểu, khám phá và có thể hoàn 
thiện bằng việc sử dụng máy tính cá nhân khi ở nhà hoặc máy tính tại phòng Tin 
học trong giờ ra chơi. (Ví dụ: Hãy tự tạo một nhân vật biết đi lại trong phòng mà 
em yêu thích)
 + Tổ chức các hoạt động giao lưu thực hành giữa các lớp trong khối với quy 
mô cấp trường giúp học sinh có cơ hội học hỏi và phát huy năng lực của bản thân. 
Tôi thường tổ chức các cuộc thi Tin học vui( Ví dụ: Thi gõ phím nhanh: Ai gõ văn 
bản nhanh và chính xác nhất trong thời gian ngắn, Lập trình mini: Yêu cầu lập 
trình một trò chơi hoặc câu chuyện ngắn .)
 + Tổ chức dạy học theo dự án nhỏ, giao nhiệm vụ tới từng học sinh hoặc 
từng nhóm học sinh.
 + Lựa chọn hình thức tổ chức thực hành phù hợp với điều kiện cơ vật chất 
của nhà trường và gia đình học sinh.
 *Ví dụ cụ thể:
 - Hoạt động thực hành theo nhóm: + Khi dạy bài: “Bài trình chiếu của em”
 Để các em hào hứng tham gia tiết thực hành và đạt hiệu quả cao. Tôi tổ chức 
lớp tham gia trò chơi “Ai nhanh nhất”.
 Cách tiến hành: 
 - Xây dựng và tổ chức cuộc thi nhỏ giữa các nhóm.
 - Mỗi nhóm gồm 2 bạn ngồi chung một máy tính cùng thực hiện 
yêu cầu sau:
 Bài tập: Tạo trang trình chiếu gồm cả văn bản, hình ảnh để giới thiệu về 
một người bạn của em.
 Sau khi nghe xong đề bài các em thảo luận và cùng nhau thao tác để tạo ra 
trang trình chiếu. Giáo viên sẽ quan sát, hướng dẫn, khích lệ các nhóm thực hành.
 Cuối giờ nhóm nào làm nhanh nhất và đẹp nhất sẽ giành chiến thắng. Cô 
giáo sẽ tặng nhóm 1 sao hoặc điểm.
 Và cứ 4 tuần tôi lại động viên khích lệ tinh thần học sinh bằng cách là đổi 
sao hoặc điểm lấy phần thưởng để các em luôn nỗ lực hơn trong những giờ học.
 3.3. Kết quả áp dụng biện pháp
 + Học sinh nâng cao kỹ năng thực hành, rèn luyện kỹ năng gõ bàn phím.
 + Phát triển tư duy logic, tinh thần hợp tác.
 + Tăng cường khả năng sáng tạo, tăng hứng thú học tập.
 + Học tập chủ động, nâng cao chất lượng dạy học và những điều này sẽ tạo nền tảng vững chắc để các em ứng dụng kiến thức tin học vào thực tiễn cuộc sống.
 Biện pháp 4: Đánh giá kết quả học tập thông qua trò chơi.
 4.1. Nội dung biện pháp
 Trong thực tế dạy học, giờ học nào tổ chức trò chơi cũng đều gây được 
không khí học tập hào hứng, thoải mái, vui nhộn. Qua thực tế cho thấy, trò chơi 
học tập có khả năng kích thích hứng thú và trí tưởng tượng của học sinh, kích thích 
sự phát triển trí tuệ, tính tư duy, tạo cho học sinh sự say mê yêu thích môn học. Trò 
chơi học tập nhất thiết phải phải là một phần cấu tạo nên bài học. Trò chơi sẽ cuốn 
hút học sinh hơn nếu có được sự giả định từ tên gọi, từ người tham gia, từ tình 
huống đến kết quả chơi. 
 4.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp
 - Lựa chọn nội dung bài học có thể chuyển thành các trò chơi học tập.
 - Xây dựng hệ thống câu hỏi phù hợp với bài học và trình độ học sinh.
 - Sử dụng phần mềm, ứng dụng phù hợp,( ví dụ: Wordwall, Quizizz, ..).
 - Tổ chức cho học sinh chơi tại các thời điểm cụ thể trong tiết học hoặc giao 
bài về nhà để củng cố kiến thức cho học sinh. *Ví dụ: Một số trò chơi trả lời câu hỏi, thay vì là gọi học sinh trả lời theo 
hướng bạn nào biết thì giơ tay thì tôi thường sử dụng cách gọi tên ngẫu nhiên được 
tạo sẵn tên học sinh ( ví dụ: Hoctap.net, YourHomework.net ) để tạo sự kịch 
tính, gay cấn cũng như hứng thú cho học sinh khi tham gia, các em sẽ hào hứng, 
hồi hộp khi được tham gia vào những trò chơi này.
 4.3. Kết quả áp dụng biện pháp
 + Học sinh rất hứng thú, thi đua, say mê, yêu thích môn học và đặc biệt là 
kích thích sự tham gia tích cực của học sinh vào bài của mình.
 + Học sinh được củng cố kiến thức bài học một cách có hệ thống và dễ dàng 
ghi nhớ hơn việc phải học lý thuyết trong SGK.
 + Giáo viên kiểm tra được sự nhận thức của học sinh sau mỗi bài học.
* Kết quả của sáng kiến
 Cuối năm học 2023 – 2024 tôi thấy đa số các em học sinh đều rất hứng thú 
học tập, không khí các giờ học vui vẻ, sôi nổi hơn, dễ tiếp thu và hiểu bài nhanh 
hơn, mạnh dạn, năng động hơn trong giờ học, học sinh thêm yêu thích môn học, thích tìm hiểu khám phá kiến thức mới. Đặc biệt, kết quả học tập đó là chất lượng 
học môn Tin học của các em học sinh trường tôi được nâng lên rõ rệt. Tôi thấy các 
em học sinh lớp 4 ở trường tôi đã không còn ngại ngùng, rụt rè như năm học 
trước. Các em đã tự tin, mạnh dạn trao đổi với bạn bè và trước cô giáo. Và đặc biệt 
hơn các em rất là hứng thú trong môn Tin học. 
 Minh chứng cho sự tiến bộ đó là biểu đồ kết quả đến cuối năm học 2023-
 2024 các em có sự tiến bộ rỗ rệt. Đến năm học 2024 – 2025 tôi tiếp tục áp dụng 
 và có điều chỉnh bổ sung để đem lại kết quả cao hơn.
* BIỂU ĐỒ TỔNG HỢP CÁC BIỂU HIỆN HỨNG THÚ HỌC TẬP 
 CỦA HỌC SINH CUỐI NĂM HỌC 2023 - 2024
 93.4 95.7 96.1
 61.
 56.9
 6.6
 4.3 3.9
 Học sinh thích Học sinh cảm thấy Học sinh thích 
 tham gia vào các hứng thú trong các tham gia vào hoạt 
 hoạt động học tập giờ học động thực hành 
 ở lớp cùng bạn
 Hứng thú Ít hứng thú
 Từ kết quả khảo sát cho thấy, đa số học sinh đã có hứng thú hơn trong học 
tập môn Tin. Khi có hứng thú học tập đã giúp các em tập trung hơn, thay đổi thái 
độ học tập đúng đắn, thêm yêu thích môn học chính vì vậy mà chất lượng đã được 
nâng cao. Đồng thời, thông qua các hoạt động dạy học đã giúp các em hình thành 
và phát triển phẩm chất, năng lực của người học theo mục tiêu chương trình giáo 
dục 2018 đã đề ra.
 *Sản phẩm được tạo ra từ giải pháp 
 Qua áp dụng các biện pháp vào dạy học môn Tin ở khối 4 ở trường Tiểu 
học Nham Biền số 1 trong năm học 2023 – 2024, tôi đã thu được những sản phẩm 
rất tích cực nhất định: 
 + Các em hăng hái học tập hơn, đa số các em tích cực trong các hoạt động học tập của môn Tin. Các em đã có hứng thú hơn, tập trung hơn trong học tập, 
ngày càng có nhận thức đúng đắn hơn về môn học. 
 + Các năng lực trong học tập như hoạt động nhóm; năng lực tực học, tự chủ 
trong học tập; năng lực thảo luận gải quyết vấn đề; năng lực giao tiếp, hợp tác... 
ngày càng hoàn thiện và phát triển. Một số kỹ năng của các em cũng được hình 
thành và phát triển tốt như kỹ năng trình bày, thuyết trình 
 + Biện pháp giúp khơi dậy sự hứng thú, chủ động và sáng tạo của các em khi 
học môn Tin học.
7.3. Thuyết minh về phạm vi áp dụng sáng kiến 
 Áp dụng cho học sinh khối 4 tại Trường Tiểu học Nham Biền số 1 và áp 
dụng tất cả các trường tiểu học khác trong thành phố Bắc Giang.
 Các khối lớp khác trong trường, đặc biệt là lớp 3 và lớp 5 – các lớp cũng 
đang học Tin học theo chương trình GDPT 2018. 
 Tôi tin rằng nếu áp dụng sáng kiến vào các môn Toán, Khoa học, Tiếng 
Việt, Tiếng Anh để giải các bài tập trên Internet một cách nhanh hơn, rút ngắn thời 
gian làm bài. Từ đó, để tăng cường tính tương tác và hứng thú học tập cho học 
sinh.
 Sau một thời gian áp dụng sáng kiến, tôi nhận thấy rằng việc tạo hứng thú 
học tập môn Tin cho học sinh là một nhiệm vụ không thể thiếu. Việc đổi mới 
phương pháp dạy học tạo không khí sôi nổi, thoải mái trong học tập đã làm cho 
học sinh thấy yêu thích và say mê tìm tòi khám phá kiến thức một cách chủ động, 
tích cực. 
7.4. Thuyết minh về lợi ích kinh tế, xã hội của sáng kiến 
a) Lợi ích kinh tế:
 + Tiết kiệm thời gian chuẩn bị bài giảng cho giáo viên: từ khoảng 2 giờ/bài 
xuống còn khoảng 1 giờ/bài nhờ có hệ thống học liệu số sẵn có.
 + Tối ưu thời gian dạy học: tăng 25% thời gian thực hành trên lớp (từ 15 
phút/tiết lên 25 phút/tiết) do tổ chức hoạt động học tập hiệu quả.
 + Sử dụng hiệu quả cơ sở vật chất sẵn có của nhà trường, không yêu cầu đầu 
tư thêm thiết bị đắt tiền. + Tiết kiệm kinh phí mua sắm tài liệu tham khảo, bài giảng mẫu nhờ có kho 
học liệu số tự xây dựng.
b) Lợi ích xã hội:
 * Đối với HS:
 + Học sinh thể hiện sự hứng thú rõ rệt khi tham gia học Tin học với các phần 
mềm, trò chơi tương tác, bài giảng đa phương tiện.
 + Năng lực sử dụng máy tính, phần mềm cơ bản (gõ văn bản, vẽ, tìm kiếm 
thông tin) của học sinh được nâng cao rõ rệt.
 + Các hoạt động học tập trở nên sinh động, giảm áp lực, tạo môi trường học 
tập tích cực, giúp học sinh chủ động, tự tin hơn trong học tập.
 + Tăng tỉ lệ học sinh hoàn thành tốt nội dung học tập và phát triển phẩm 
chất, năng lực theo yêu cầu chương trình GDPT 2018.
 + Phát triển năng lực số cho học sinh tiểu học, chuẩn bị công dân số tương lai.
 * Đối với GV:
 + Nâng cao chất lượng dạy và học môn Tin học lớp 4, góp phần thực hiện 
hiệu quả chương trình giáo dục phổ thông 2018.
 + Tăng tính chuyên nghiệp, năng lực sử dụng công nghệ và khả năng đổi 
mới phương pháp dạy học của giáo viên.
 * Đối với nhà trường và phụ huynh:
 + Góp phần xây dựng mô hình lớp học thông minh, hiện đại; thúc đẩy 
chuyển đổi số trong giáo dục.
 + Tăng cường mối liên kết giữa các môn học, tạo điều kiện để học sinh vận 
dụng kiến thức liên môn trong học tập.
 + Tạo tiền đề cho các hoạt động trải nghiệm, câu lạc bộ CNTT hoặc STEM 
cấp trường.
 Tăng cường mối liên kết giữa gia đình và nhà trường trong giáo dục.
 + Hỗ trợ phụ huynh hiểu và đồng hành cùng con trong thời đại số.
 Trên đây là một số kinh nghiệm của bản thân tôi giúp học sinh hứng thú, 
phát huy tính tích cực trong học tập môn Tin lớp 4. Tôi rất mong được sự giúp đỡ, 
đóng góp ý kiến của các đồng nghiệp để sáng kiến kinh nghiệm của tôi được hoàn thiện hơn, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học.
 * Cam kết: Chúng tôi cam đoan những điều khai trên đây là đúng sự thật và 
không sao chép hoặc vi phạm bản quyền.
Xác nhận của cơ quan, đơn vị Tác giả sáng kiến
 (Chữ ký, dấu) (Chữ ký và họ tên)
 Nguyễn Thị Cửi Nguyễn Thị Ngân

Tài liệu đính kèm:

  • docskkn_ung_dung_cong_nghe_thong_tin_giup_hoc_sinh_lop_4_truong.doc